HOA VÀNG PHỐ CŨ

NMC : Xin được giới thiệu giòng thơ Vũ minh Tuấn.... Làm thơ từ khi còn rất trẻ và được biết tới với những bài thơ đầy âm điệu,lời thơ trau chuốt nhưng đầy tính lãng mạn, gói ghém nhiều nổi niềm như bài thơ Ngẩu Hứng, HOA VÀNG PHỐ CŨ sau đây.Trang Blog này xin chào đón Tuấn và mong nhận được thêm nhiều tác phẩm của bạn.




HOA VÀNG PHỐ CŨ

Mười năm phố cũ về ngang

Nhà em hoa rụng đã vàng lối xưa

Ngậm ngùi ngó phố trong mưa

Nhớ khi áo lụa gió đưa qua cầu

Bây giờ biển hóa nương dâu

Mảnh trăng ngày cũ nát nhầu đớn đau

Mười năm áo lụa qua cầu

Hoa vàng phố cũ, em đâu bây giờ ?

(vmt)

Ngẫu hứng

Ngựa hí đầu non sương tuyết pha
Như thời thái tử biệt Kinh Kha (*)
Mà người đâu phải là tráng sĩ
Nên chẳng yên cương, khói lửa nhòa

( Ừ nhỉ, người không là tráng sĩ.
Đâu phải qua sông lúc chiều tà
Đâu nghe gió thổi sông Dịch lạnh
Một nhịp chèo đưa khuấy giang hà )

Người chỉ là người của phương xa
Một buổi dừng chân chợt nhớ nhà
Nhớ khách ly hương chiều quê cũ
Ngậm ngùi lại nhớ rượu hoàng hoa

Người có gần không hay đã xa ?
Rượu đây, ta nhấp chén quan hà
Ngày mai cách trở bao sông nước
Biết có còn ai say với ta ?

Người đã về chưa, đã đi chưa ?
Sao bỗng chạnh lòng buổi tiễn đưa
Sao cũng ngại ngần câu tống biệt
Rượu mời đã uống lại như chưa.

Người đã mềm môi hay chưa say ?
Rót thêm, ta cạn nốt ly này
Ngày mai cố lý xa nghìn dặm
Dẫu muốn nhưng nào có được say.
( VMT )

(*) Kinh Kha là một tráng sĩ, được thái tử Đan (người nước Yên) nhờ hành thích Tần Thủy Hoàng.
Kinh Kha nhận lời. Ngày ra đi, thái tử và các bạn bè của Kinh Kha, áo trắng, mũ trắng tiễn đưa bên bờ sông Dịch. Kinh Kha giắt theo một thanh trủy thủ ( thanh kiếm ngắn ) sang sông tìm cơ hội hành thích Tần Thủy Hoàng.

Ngày Ấy Chờ Em

Tôi đến chờ em một buổi chiều
Sân trường ngày ấy vắng cô liêu
Hoa rơi lác đác bên thêm vắng
Lãng đãng xa xa vài cánh diều

Vang vọng đâu đây một khúc ca
Tiếng đàn réo rắt bản tình ca
Lời trong câu nhạc nghe say đắm
Điệu khúc Tango sao thiết tha

Ô hay trời đã quá về chiều
Mà Sao chẳng thấy bóng người yêu?
Nhạc khúc chừng nghe thêm thồn thức
Thấp thoáng từ xa dáng yêu kiều

Ngày ấy bây giờ đã bao năm?
Cuộc sống qua đi với thăng trầm
TIm tôi vẫn nhớ ngày xa ấy
Khúc nhạc hôm nào em nhớ không?
NMC(09/07/2011)

Anh biết em đi chẳng trở về

Bài thơ của Thái Can qua nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc

Bùi Giáng Bốn Mùa

Bùi Giáng Bốn Mùa  --- thơ PHẠM THIÊN THƯ

Nhà thơ Bùi Giáng









Ta thấy anh là – con dế điên

Cả mùa xuân – hát giữa thanh thiên

Mùa xuân hoa cỏ vương đầy sách

Anh ném thơ ca – xuống võng thiền



Ta thấy anh là – con dế què

Suốt mùa hạ thẫm – hát im nghe

Anh chưa nhảy khỏi bờ nhân ngã

Lại ném tồn sinh tím vỉa hè.



Ta thấy anh – là dế sương mù

Hát ca ẩm ỉ suốt mùa Thu

Anh mơ hồ cả đêm xòe nguyệt

Vàng cả Kim Cương mở lối tu.



Ta thấy anh là dế nội đồng

Lẫn vào hương cỏ hát mùa Đông

Anh sai ngôn ngữ như phù thủy

Ngôn ngữ đè anh xuống cõi không



Ta với anh – cùng Dế Đá trời

Thượng đế cầm râu ngoáy ngoáy chơi

Chọi với hư vô đầu trụi tóc

Tìm trong đá tảng – cái chơi vơi

PHẠM THIÊN THƯ

NMC : Lần cuối thấy nhà thơ Bùi Giáng nhảy múa ở đường Tự Do những năm 79 -80.



Tôi thấy anh là con dế vui
Khóc cười nhảy múa thật dễ coi
Mang bao tiền kiếp vào nhân dáng
Rồi cũng cho xong một kiếp người

Tôi thấy anh là con dế buồn
Quay vòng trong mảnh đất cỏn con
Muốn bay vượt khỏi vòng hư ảo
Khi tỉnh,Khi mơ giữa sóng cuồng

Tôi thấy anh là con dế mèn
Khóc cười trên, sự thế đảo điên
Thơ tỉnh, thơ điên, sầu buông tiếng
Vọng tiếng bay xa khắp mọi miền

NMC
09/03/2011

Chiều thứ 10 (Tenth dimension) và Lý Thuyết Dây







Lý Thuyết Dây và Siêu Dây đã và đang là một lý thuyết toán vật lý phát triển mạnh trong những năm gần đây. Lý Thuyết tương đối của giáo sư Albert Einstein đã làm thay đổi về quan niệm thời gian tuyệt đối từ đầu thế kỷ hai mươi và mang vào khái niệm thời gian ào trong chiều thứ tư. Từ những năm 70, lý thuyết tương đối được dùng để mô tả những vật thể lớn như mặt trời, thiên hà, vũ trụ. Trong khi cơ học lượng tử thì dùng cho nguyên tử, phân tử. Lý thuyết dây khi ra đời đã được hy vọng có thể giải thích được cung cách vận hành, hoạt động của cả nguyên tử và những vì sao..Lý thuyết dây cho rằng phần tử nhỏ nhất trong vũ trụ được bao gồm những đường vòng với những nhánh dây rung động[1].
Từ khái niệm 10 chiều(dimension) cho tới 11 chiều, và nay là 26 chiều Lý thuyết dây đã chuyển sang Siêu Dây(superstring theory). Lý thuyết dây đã và đang được xử dụng để giải thích hiện tượng hố đen(Black Hole), năng lượng trong Vũ trụ và những nguyên lý trong vât lý như Nguyên Lý Bất Xác(Uncertainty Principle) và Thuyết Lượng Tử Trường(Quantum Field Theory).
Trong những năm gần đây, đã có nhiều phát triển bức phá trong sự phát triển của lý thuyết dây trong Cloud Computing, Quantum Computing, Computational Biology(Brain function Model). Những xe lửa siêu tốc(bullet train) đã là những mô hình có thể sẽ được dùng để chứng nghiệm lý thuyết dây trong chiều thứ tư và thứ 5.

Bây giờ xin mời quý vị làm quen với Chiều thứ 10 qua video sau đây:
Source : http://www.tenthdimension.com/flash2.php by by Rob Bryanton

Imagining the Tenth Dimension part 1 of 2



Imagining the Tenth Dimension part 2 of 2


California những ngày cuối hè nóng bức

Tháng 8 ngày 27 năm 2011

Nguyễn Mạnh Cường


References

1. Edward Witten (1998). Can scientists “theory of everything” really explain all the
weirdness the universe displays?

Nguyễn Bá Trác và bài thơ Hồ Trường



Nguyễn Bá Trác và bài thơ Hồ Trường (Vương Trùng Dương, Tôn Nữ Lệ Ba)
Theo: nguoivietboston.com

http://nguoivietboston.com/?p=12120

Nhà văn Nguyễn Bá Trác, bút hiệu Tiêu Đẩu đã đóng góp nhiều công trình biên soạn được đăng tải trên báo Nam Phong và xuất bản nhiều tác phẩm vào tiền bán thế kỷ XX nhưng trải qua nhiều thập niên, tên tuổi của ông chỉ được nhắc đến qua bài thơ Hồ Trường.

Bước vào năm Ất Dậu, nhân 60 năm ngày mất của ông, chúng tôi đề cập đến hình ảnh người quá cố đã có công đóng góp cho nền văn học và lịch sử đất nước nhưng bị phôi phai theo thời gian. Đây chỉ là bài viết có tính cách tổng quát về tác giả và bài thơ được đăng tải trên tờ Nam Phong vào đầu thập niên 20, được sao chép lại và lưu truyền rộng rãi nhưng được bàn cãi khá nhiều qua nguyên tác của nó, vấn đề nầy xin nhường cho những nhà nghiên cứu văn học, chúng tôi ghi nhận những điều qua sách báo.

Đôi Dòng Về Tác Giả
Nguyễn Bá Trác sinh năm Tân Tỵ, 1881 tại làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam. Địa danh làng nầy đã được đề cập trong bài viết về nhà văn Phan Khôi (1887-1959) ở vùng đất Gò Nổi gồm có các làng Tư Phú, Bảo An, La Kham, Xuân Đài, Trường Giang, Đông Bàn, Phú Bông… vùng đất đã mang lại niềm tự hào cho quê hương Quảng Nam vì đã sản sinh ra những nhân vật gắn liền với lịch sử và văn học nước nhà.

Thuở nhỏ ông theo học ở Quảng Nam, năm 1906, ông đỗ Cử nhân ở Huế. Hưởng ứng lời kêu gọi của các nhà ái quốc trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và Duy Tân của Phan Chu Trinh và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, ông ra Hà Nội học tiếng Pháp và năm 1908, ông tìm cách theo du học sinh sang Nhật. Khi chính phủ Nhật giải tán học sinh du học, ông sang Trung Hoa rồi trở về Việt Nam năm 1914.
Ông làm Chủ Bút phần Hán văn tờ Cộng Thị Báo từ năm 1914 đến 1916.

Năm 1917, dưới sự bảo trợ của Louis Marty, Phạm Quỳnh sáng lập Nam Phong tạp chí, Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút và Nguyễn Bá Trác đảm trách Chủ Bút phần Hán văn.

Rời tờ Nam Phong, ông làm Tá Lý Bộ Học ở Huế, Tuần Phủ ở Quảng Ngãi và Tổng Đốc Thanh Hóa, Bình Định. Tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, ông bị xử bắn ở Quy Nhơn, Phạm Quỳnh (1892-1945) bị xử bắn ở Huế.

Ngoài nhiều bài viết trên tờ Nam Phong, Nguyễn Bá Trác đã biên soạn nhiều tác phẩm: Ngoài hai bộ sách Cổ Học Viện Thư Tịch Thủ Sách cùng với Nguyễn Tiên Khiêm gồm 11 quyển, ấn hành năm 1921, và Hoàng Việt Giáp Tý Niên Biểu, ấn hành năm 1925, còn có Bàn Về Học Thuật Nước Tàu
(1918), Hạn Mạn Du Ký (1920), Bàn Về Hán Học (1920), Hương Giang Mộng (1920), Ngã An Nam Dân Tộc Nam Tiến Chi Lịch Sử (1921), Mấy Lời Chung Cáo Của Các Nhà Nho (1921), Nguyễn Bá Học Tiên Sinh Chi Lược Sử Cập Kỳ Di Ngôn (1921), Du Thanh Hòa Ký (19210, Hán Học Văn Học
Khảo (1917-1932)…

Hồ Trường
GS Thanh Lãng nhận định: “Muốn hiểu văn học việt Nam thời kỳ 1913-1932 không gì tốt cho bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là một tạp chí có ảnh hưởng sâu rộng, giữ địa vị của một Hàn Lâm Viện, kết nạp tất cả mọi ngành đương thời”. Nhiều quan niệm cho rằng Nam Phong là công cụ do
Phủ Toàn Quyền sáng lập nhưng không thể phủ nhận giá trị của nó trong lịch sử báo chí, văn học mà Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác giữ vai trò quan trọng. Tiếc rằng tài liệu về Nam Phong không còn lưu trữ nên khó nhận định, và ngay cả bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác rất nổi danh đã bị tam sao thất bổn.

Nguyễn Bá Trác viết thiên ký sự Hạn Mạn Du Ký (HMDK) bằng Hán văn, đăng trên báo Nam Phong rồi tác giả dịch ra Việt ngữ, đăng tải lại trên Nam Phong từ số 38 đến 43 trong năm 1920. Tác phẩm Hạn Mạn Du Ký, Đông Kinh ấn quán xuất bản, Hà Nội, 1921, gồm 14 chương, dày 294 trang. Bìa sách có in “Lời ký của một người đi chơi phiếm Xiêm – Tàu – Nhật Bản…”. Trong tác phẩm nầy thì cuộc hành trình 6 năm, tác giả khởi hành từ miền Trung VN sang Thái Lan, đến Trung Hoa rồi sang Nhật, trở lại Trung Hoa, ghé Hồng Kông rỗi trở về Việt Nam.

Bài thơ Hồ Trường ra đời khi Nguyễn Bá Trác lưu lạc Trung Hoa và đứng trước hoàn cảnh trớ trêu giữa bản thân và đất nước, bắt gặp bài ca phù hợp với tâm trạng tạo thành ý thơ. Nếu có tài liệu từ tạp chí Nam Phong và tác phẩm HMDK để chép lại thì bài thơ Hồ Trường không tốn nhiều bút mực trong những thập niên qua.

Trong quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu Giản Ước Tân Biên của GS Phạm Thế Ngũ, Sài Gòn 1965, đề cập đến giai đoạn tác giả bài thơ Hồ Trường và bài thơ (xin đánh dấu ngoặc kép những chữ qua các bản văn thay đổi):

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha “phương”,
Trời Nam “ngàn” dặm thẳm, mây nước một màu sương.
Học “chẳng” thành công chẳng lập, trai trẻ bao “lâu” mà đầu bạc, trăm
năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ “tay” mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại
đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn
Rót vế Tây phương, mưa Tây “rơi” từng trận chứa chan.
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như
cuồng.
Nào ai tỉnh nào ai say.
Chí ta cho biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

Trong tác phẩm Chơi Chữ của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Sài Gòn 1970, một vị thâm nho không nêu tên tác giả Hồ Trường mà dẫn chứng câu chuyện gắn liền với hoàn cảnh với bài thơ vừa khí khái vừa ngông. So với bản của Phạm Thế Ngũ trong vòng kép và bản của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, chỉ khác nhau vài chữ như: chữ hương thay chữ phương, nghìn thay ngàn, không thay chẳng, lăm thay lâu, sơn thay rơi và vài dấu chấm, dấu phảy, dấu chấm hỏi ở cuối câu.

Trong quyển Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại 1880-1965 của Trần Tuấn Kiệt, Sài Gòn 1968, cũng chỉ khác nhau vài chữ trong những câu trên, trong đó có chữ “bẻ cật” mà LN Phùng Tất Đắc cho rằng sai vì tác giả muốn mượn chữ theo điển tích ngày xưa chứ không phải gan cật. Đến phần cuối, ở câu:
“Rót về Nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng” thì bài thơ lại chấm dứt với câu:
“Rót về Nam Phương
Trời Nam nghìn dặm thẳng
Non nước một màu sương
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Có người quá chén như điên như cuồng”.

Sau hai thập niên ở hải ngoại, vào giữa năm 1998, tạp chí Thế Kỷ 21 đề cập lại bài thơ Hồ Trường. Thế Kỷ 21 số 115 tháng 11-1998, trong mục Bạn Đọc Viết đăng tải bài Hồ Trường do Tôn Thất Hanh ở Canada gởi cuốn băng cassette do chính ái nữ của Nguyễn Bá Trác thực hiện qua giọng ngâm của
Lệ Ba. Trong cuốn băng đó có lời của ái nữ Nguyễn Bá Trác nhắn nhủ hai người con: “Bài thơ Hồ Trường là bài thơ chí khí của ông ngoại, nhưng mà đó cũng là chí khí muôn đời của thanh niên”.

So với bản của Phạm Thế Ngũ thì khác nhau ở câu đầu thêm chữ đại “Đại trượng phu”, câu thứ 3 “Chí chưa thành danh chưa đạt”, câu 4 với chữ “gươm”, “người”, câu 8 với chữ “biển”, “loạn”, câu 9 với chữ “phương Tây”, câu 9 với chữ “đá chạy cát giương”, câu 13 với chữ “Lòng ta ta biết, chí ta ta hay” và câu cuối với chữ “ư”.

Trên tờ Vietnam Weekly News, ngày 4 tháng 9-1998, bài viết của Nguyễn Đắc Khoa cũng dựa vào các bài vừa được đăng tải rồi đề cập đến bài thơ được nghe để luận bàn.

Trên tờ Khởi Hành Xuân Canh Thìn, số 39 & 40 tháng 1 & 2 năm 2000 có đề cập đến 4 ấn bản bài thơ Hồ Trường (2 ấn bản trước năm 1975 và 2 ấn bản vào năm 1998) trong đó có bài của Đông Trình trên tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật ngày 7 tháng 6-1998 mà Đông Trình ghi nhận từ Nguyễn Văn Xuân đọc từ Hạn Mạn Du Ký. Đây cũng là tài liệu nghiên cứu văn học để dẫn chứng và tế nhị vì không kết luận ấn bản nào chính xác.

Nhìn chung, bài thơ Hồ Trường sau nầy chép lại đã ngắt và xuống dòng và dựa vào sự khác nhau đó để diễn giải cho có phần linh động. Nếu dựa vào những chữ đã để trong ngoặc kép qua các chữ khác nhau, không có gì lệch lạc nhiều, chỉ có chữ “bẻ cật” với “bẻ cột” mà theo Lãng Nhân Phùng Tất Đắc dựa vào điển tích từ thời Trụ Vương ở Trung Hoa “Xé gan là hành động của Tỷ Can, bẻ cột là hành động của Chu Văn” thể hiện hào khí của bậc trung thần không chịu khuất phục dưới bạo chúa do Đắc Kỷ lung lạc.

Nguyễn Bá Trác dựa từ bài hát theo lối biền ngẫu của Trung Hoa, qua tác phẩm khi viết bằng Hán văn không ai đề cập tác giả chỉ nói về ý nghĩa hay sáng tác thành thơ nhưng khi chuyển thành Việt ngữ tác giả dệt thành áng thơ lưu lại tên tuổi của mình. Thế nhưng, còn có sự nhầm lẫn giữa Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác với Tuyết Huy Dương Bá Trạc (1884-1944) vì Dương Bá Trạc (bào huynh GS Dương Quảng Hàm), ông là nhà nho yêu nước, cùng với Tây Hồ Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám và các sĩ phu chống Pháp, bị Pháp kết án 15 năm tù biệt xứ, sau đó bị Nhật đưa sang Singapore. Dương Bá Trạc cũng là nhà văn có các tác phẩm ấn hành giữa thập niên 20 cùng thời điểm với Nguyễn Bá Trác. Theo Vũ ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại: “Ngay hồi Nam Phong tạp chí mới ra đời, Dương Bá Trạc đã có nhiều bài ký biệt hiệu là Tuyết Huy… ông còn là thi sĩ, tác giả hai tập thơ: Trai Lành Gái Tốt và Nét Mực Tình”. Có lẽ dựa nghiệp dĩ và tâm trạng con người có tài nhưng chán ngán trước cảnh đời, sinh bất phùng thời mới mượn bầu rượu nhập vào ý thơ hào khí ngất trời trước thời thế đổi thay nên tưởng nhầm Dương Bá Trạc là tác giả. Cách đây vài năm, có bài viết “Biến Thể Ngông Bài Hồ Trường”, tác giả dẫn giải và nhầm lẫn bài thơ đó của Dương Bá Trạc rồi chỉ trích, thật oan cho nhà văn ái quốc Dương Bá Trạc!

Tiếc rằng sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bá Trác không được nhắc nhở, chỉ còn bài thơ rất hay, đóng góp áng thơ tuyệt vời trong kho tàng thi ca Việt Nam nhưng bị tam sao thất bổn mà các nhà nghiên cứu văn học trong cùng thế kỷ chưa minh chứng để lưu lại hậu thế!.

Hồ Trường là nậm rượu, bầu rượu hình dáng như trái bầu mà người xưa thường dùng nó để đựng rượu, bài thơ Hồ Trường có câu “nghiêng bầu mà hỏi”. Trong văn hóa Đông phương, điển hình như Trung Hoa, có nhiều loại cho đồ đựng rượu và uống rượu là nghệ thuật tạo hình trải dài qua mấy nghìn năm. Từ vật dụng đựng rượu có sẵn trong thiên nhiên như gỗ, tre, sừng, vỏ ốc, quả bầu (hồ lô) đến vật dụng được chế biến từ đất nung, sành sứ, kim loại, thủy tinh… theo tiến trình văn minh của con người sáng tạo ra nhiều loại khác nhau và mỗi loại lại có hình dáng riêng của nó.

Ngày nay, có nhiều thứ trở thành đồ cổ quý giá với lai lịch của nó hình thành trong mỗi triều đại. Hình ảnh bầu rượu được buộc dải lụa ở nước ta được thấy trên các mái đình, miếu, am và trên nóc Tháp Rùa ở Hà Nội, điện Thái Hòa, Thế Miếu, Ngọ Môn ở Huế… còn lưu lại hình ảnh nầy. Từ thời xa xưa, quả bầu được xem như biểu tượng thiêng liêng đựng nước thiêng rồi sau đó đựng thức uống rất quý là rượu. Hình ảnh “bầu rượu túi thơ” được minh họa qua nhân vật nổi danh như Lã Đồng Tân, Lý Thiết Quảng, Lý Bạch, Lưu Linh… trở thành quen thuộc qua nhiều thế kỷ ở Đông phương. Bìa thi phẩm Mây của Vũ Hoàng Chương do Tô Ngọc Vân vẽ bầu rượu đựng túi mây phiêu bồng mô tả tâm hồn thi nhân nơi trần gian.

Trong thi ca Trung Hoa và Việt Nam, có hàng trăm bài thơ đề cập đến rượu, có bài nhắc đến tên rượu, có bài thể hiện ở nội dung… Nguyễn Bá Trác dùng vật dụng là tựa đề cho bài thơ, vừa hay về âm điệu vừa gợi hình ảnh đồ dùng của loại men nồng, trở thành nét đẹp trong nghệ thuật tạo hình.

Trong khi đợi nguyên bản bài thơ Hồ Trường để xác minh, tạm thời căn cứ vào bài thơ do ái nữ của người quá cố để khỏi phụ lòng người thân:

Hồ Trường
Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường
Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương
Trời Nam nghìn dặm thẳm
Non nước một màu sương
Chí chưa thành, danh chưa đạt
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát
Nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.

Hồ trường! Hồ trường!
Ta biết rót về đâu
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá giương
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.

Nào ai tỉnh, nào ai hay
Lòng ta ta biết, chí ta ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

Bước vào năm Ất Dậu 2005, đúng vào chu kỳ 60 năm, ngày mất của Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác, với cái nhìn khách quan và vô tư trên lãnh vực văn học, chúng tôi ghi lại để tưởng nhớ bậc tiền bối đã có công đóng góp trong thời kỳ báo chí còn phôi thai và giai đoạn trưởng thành của chữ Quốc ngữ.

Vương Trùng Dương

Ghi chú của NguoiVietBoston: Nhà biên khảo Phạm Hoàng Quân đã chép lại nguyên bản trích từ Nam Phong tạp chí số 41 năm 1920. Trang 400 – 401 (giữ nguyên các lỗi sai so với chính tả ngày nay)

Lời ca Hồ trường

Trượng phu không hay sé gan bẻ cột phù cương thường;
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương
Trời nam nghìn dậm thẳm, mây nước một mầu sương
Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thể bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu?
Rót về đông phương, nước bể đông chẩy xiết sinh cuồng lạn;
Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén, như điên như cuồng
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta hay
Nam nhi sự ngiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.


Nguyên Tác Nam Phương Ca Khúc:

Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường
Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương
Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương
Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thời hề, toạ thị bách niên thân thế khu âm dương
Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ (4) hề, , thí lai đối chước hữu dư thương.
Dư thương trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan
Dư thương trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương
Dư thương trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương
Dư thương trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy
Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hĩ, dư hành dư chí
Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử

Dịch nghĩa:

Kẻ trượng phu sống mà không vạch gan, bẻ cột lo giềng mối cho đời
Rong chơi bốn biển, quê hương ở nơi đâu?
Quay đầu trông về nam, miệt mù vậy hỉ! Trời mây nối màu xanh ngắt
Lập công chẳng được, học không xong, trai trẻ có bao lâu, ngồi ngó trăm năm, thân đuổi cuộc sớm chiều.
Vỗ tay hát khùng, hỏi đời kia, đất trời mờ mịt vậy, một người tri kỷ tìm ở đâu, thử đến giúp ta rót chén rượu này
Ta quăng chén rượu đầy trộn nước biển đông, nước biển đông nổi cuộn vạn lớp sóng
Ta quăng chén rượu đầy vào mưa núi tây, mưa núi tây một trận sao lênh láng
Ta quăng chén rượu đầy đuổi theo gió bắc, gió bắc tung cát lăn đá bay nơi khác
Ta quăng chén rượu đầy vào mây mù trời nam, trong mây mù có người há miệng điềm nhiên say tràn
Trời đất dọc ngang đều mất hết, sao ta không say, chí ta thời ta làm
Từ xưa nam nhi đuổi theo tang bồng, cớ gì sùi sụt sầu cố hương.


HoTruong. Tho:Nguyễn Bá Trác. Giong Ngam: Tôn Nữ Lệ Ba

Ngày nào tôi sẽ về

Tặng VMT va Nguoi aimoCali

Ngày nào tôi sẽ về
Thăm lại ngôi trường xưa
Cùng bạn uống ly rượu
Ngồi kể chuyện ngày xưa

Gần ba mươi năm qua
Chúng ta nay đã già
Biết bao là thay đổi
Trong cuộc sống quanh ta

Nhưng bạn ơi vẫn còn
Những tấm hình xưa cũ
Của một ngày nào đó
Sai gòn của ta ơi

Đường xưa nay đổi tên
Mưa vẫn rơi bên thềm
Hạt mưa rơi thánh thót
Không bao giờ tôi quên

NMC

TỰ SỰ


Ngồi hàng giờ trước máy
Cạn bao tách cafe
Chữ nghĩa đôi khi cũng rất nhiêu khê
Khi cố viết, không thể nào viết được
Hồn thơ đến hay đi không báo trước
Có những lúc ngồi một mình
Vật vã với mớ chữ nghĩa ngổn ngang
Bỗng dưng chợt nghĩ đến nàng
“Phải chi bướm trắng lại sang bên này”
“Ngày qua ngày lại qua ngày” *
Viết rồi xóa bỏ… thở dài, thở ra

Đã mấy ngày qua
Bây giờ gõ tiếp
Chữ nghĩa, văn chương bỗng trở nên cái nghiệp
Không viết được thì buồn
Nhưng thi hứng lại bỏ đi chơi
Không lẽ ngồi đây cứ dài ngắn kêu trời
Nhưng khổ nỗi ông trời đâu có làm thơ mà than với trách
Thôi đành dẹp quách
Đi uống café

Sao tâm tư cứ mãi nặng nề
Năm ba phút lại ra mồi thuốc lá
Ngồi nghe tiếng ve sầu khắp nơi rôm rả
Ca khúc mùa hè gợi nhớ trường xưa
Mây trên trời vài cụm lưa thưa
Bay lãng đãng như không biết về đâu
Giữa khung trời bao la quạnh quẽ
Trong ký ức có nụ cười cô bé
Mái tóc bay bay dưới gốc phượng già
Cô ra sao rồi 36 năm qua
Khi sách vở học trò lùi vào dĩ vãng
Khi cuộc sống cằn khô theo năm tháng
Khi lọn tóc huyền bạc thếch gió sương

Bước ra khỏi cổng vườn
Ngồi bờ suối ngâm chân dưới nước
Nắng gay gắt mồ hôi tuôn ướt mượt
(Như nắng Saigon một thuở xa xưa)
Lá trên cành gọi gió đong đưa
Nghe như tiếng thì thầm của nàng thơ bước tới
Tay khoác nước làm con nhái bầu nhảy vội
Ẩn mình sâu dưới khóm lục bình

Năm tháng cứ đi tới rất vô tình
Càng lúc như càng nhanh hơn trước
Nghe có tiếng thở dài thườn thuợt
Ngó chung quanh vẫn chỉ có riêng mình

Văn Yên Sơn

Cuối tháng 7/2011

(*) thơ Nguyễn Bính

Gợi Nhớ Sài Gòn




Tôi đến Florida ngày hôm qua
Những trận mưa rào và không khí ẩm thấp
Làm tôi chợt nhớ mùa hè năm xưa
Ở Sài Gòn
Thành phố mà tôi sanh ra
Lớn lên với những kỷ niệm êm đềm va tươi đẹp

Florida có những tòa nhà chọc trời
Đứng sừng sững với những con đường xa lộ
Thẳng tắp và đầy xe
Với những con người sống trong vội vả
Ngay cả trong lúc họ ăn, họ thở và vui chơi


Khác với Sài Gòn ngày ấy của tôi
Con người có thể sống, yêu, làm việc
Trong một nhip điệu vừa phải
Chừng mực và có đầy tiết tấu
Như tiếng côn trùng kêu rả rích
Của một mùa hè năm xưa
Sau một cơn mưa

Sài Gòn ngày ấy có những con đường
Giữa những trận mưa rơi nặng nhẹ
Đường phố ngâp đầy lá cây
Khói thuốc bay lên trong quán cà phê mù sương
Sân nhà ai thoang thoảng mùi Dạ Lý Hương
Tôi đạp xe
Buổi tối đến trường
Lòng giản đơn của chàng trai mới lớn
Đâu biết rằng đời sống thật vô thường

Đã bao năm qua
Dù Ở đâu
Mỗi khi mưa đến
Nhìn những trận mưa rào
Làm tôi nhớ
Bạn ơi
Sài Gòn của tôi
Mãi mãi bên tôi


Nguyễn Mạnh Cường
08/11/2011

TÔ CANH THƠM CỦA MẠ

Chỉ mới đôi năm trước đây thôi, mạ tôi vẫn còn khỏe và năng động lắm. Tuy đã lớn tuổi, nhưng bà vẫn tự nấu lấy thức ăn cho mình. Anh em tôi e ngại sợ mạ tay yếu đổ nước phỏng tay, hay sợ bà quên tắt bếp, lửa củi nguy hiểm…nhưng mà nói mấy cũng vô ích. Mạ viện lý do thức ăn tụi tôi nấu không hợp khẩu vị, và nhất là bà cần làm việc để qua thì giờ và cũng để vận động chân tay luôn thể. Thấy bà nói có lý nên tụi tôi cũng đành chiều ý. Thôi kệ, tới đâu hay tới đó. Vậy đó mà mạ tôi đã nấu ăn một cách ngon lành. Chẳng những bà nấu cho bà, mà cả lũ con cháu nội ngoại còn được hưởng lây nữa.

Hình như ít có lần nào sau khi đã gởi cháu cho Bà trông, đến đón về mà tôi không được mạ bới cho một chút đồ ăn mang theo. Và món mà bà thường làm cho tôi nhiều nhứt là món canh thơm. Bà biết đây là món mà tôi rất thích.
Kể cũng lạ. Những lần mang tô canh thơm về là tôi hầu như một mình làm trọn. Hai đứa con không ăn đã đành, mà cả H cũng chỉ sơ sơ vài muổng góp vui vậy thôi, còn lại là tôi quét sạch không chừa một cọng hành. Tôi xì- xà xì- xụp ăn tô canh như ngày mai sẽ tận thế không bằng.
Thấy tôi thích món này như vậy, nên khoảng hai ba tuần mà không thấy tôi mang từ bà nội về là vợ tôi lục đục nấu. Tưỏng cũng nói thêm bà xã tôi có biệt tài học nấu ăn. Nàng vô nhà hàng hoặc đi ăn ở đâu mà gặp món đắc ý, chỉ cần khươi đĩa đồ ăn coi sơ sơ là có thể về nhà nấu giống y chang. Cho nên với tô canh thơm đơn giản này là quá dễ dàng. Hôm tôi thấy tô canh thơm dọn lên bàn, ngạc nhiên quá tưởng là mạ tôi nấu nhờ người khác mang qua. Nhưng H nói nàng mới nấu theo kiểu của Bà nội. Tôi thích vô cùng, ngồi xuống chén thả giàn. Ăn xong vợ hỏi “ ngon không?” “Ngon chứ”. Vợ hỏi tiếp “ Có ngon như bà nội nấu không” Tôi thành thực trả lời “ Ngon, nhưng mà hình như hơi khác với cách Bà nội nấu” Vợ tôi nói mới nấu lần đầu nên chưa chỉnh. Lần sau chắc chắn sẽ giống.
Lần sau nữa, tô canh thơm của vợ tôi nấu thành thật mà nói thì chẳng những giống mà có lẽ còn đậm đà và thơm ngon hơn tô canh của mạ tôi. Tôi ăn cũng ngon lành lắm. Thế nhưng, dù vợ tôi có nấu cách nào đi nữa cũng không thể nào giống như tô canh của mạ. Canh thơm của vợ nấu thì tôi ăn bình thường cùng những món ăn khác. Nhưng khi ăn tô canh của mạ tôi nấu, đặc biệt trọn một bữa cơm tôi chỉ ăn một món này mà thôi như là sợ mấy món kia sẽ làm tô canh của tôi bớt ngon. Tôi vừa ăn mà sợ như nó sẽ…hết. Và khi nó hết, tôi vét đến cọng ngò cuối cùng. Ăn xong mà vẫn thòm thèm thật tức cười. Cả hai đứa tôi cùng nhận thấy điều này. Lạ!
Cho đến một hôm…
Cũng nhân dịp lễ Thanks Giving, lớp học con gái tôi tổ chức một buổi pot-luck ăn trưa. Mỗi phụ huynh tham dự mang một món ăn tới góp vốn ăn chung. Tôi mua mang theo món mì xào từ một tiệm mì nổi tiếng và tôi biết rất ngon. Tới giờ ăn, các phụ huynh phải phục vụ cho các em ăn trước. Món mì của tôi được tất cả ủng hộ nhiệt liệt trừ một cậu bé có vẻ là người Tàu hay Phi gì đó. Khi tôi mang đĩa mì tới, nó thờ ơ lạnh nhạt nói “Không ăn” Hừm, làm bộ dữ. Chắc là nó không đói. Nhưng tôi vẫn cố dụ “Ăn đi cháu, mì ngon lắm” Cậu vẫn một mực: “Không ăn. Mì má cháu làm ngon hơn nhiều” A, thằng này làm phách nhỉ, dám nói là mì má nó làm ngon hơn ở tiệm, mặc dù là chưa thử qua sợi nào. Đúng lúc đó mẹ của cậu cũng vừa tới bàn. Bà giở nắp hộp đồ ăn của cậu ra thì quả nhiên là…một hộp mì xào. Tôi tò mò nhấn nhá đứng gần hai mẹ con để coi món mì gì đặc biệt mà cậu con quảng cáo dữ dội quá. Khi tôi nhìn thấy tô mì rồi thì thật là…thất vọng đến nảo nề. Trơì ơi, tưởng là có gì ghê gớm lắm, té ra là những cọng mì trắng nhách, nhạt nhẽo, thêm chút trứng chiên thái mỏng rãi ở trên, và chan xì dầu. Chỉ vậy thôi mà cậu làm như là sơn hào hải vị đâu đâu không bằng. Tôi bị chạm tự ái quá đi. Nó dám chê mì mua ở nhà hàng của tôi để ăn cái tô mì trông thiệt là …dỡ ẹt này. Cho nên tôi vẫn tiếp tục nhấn nhá đứng gần để coi thử.
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy cậu bé mắt sáng rở khi mì của cậu được mẹ xúc ra chén. Kỳ thật. Đĩa mì tôi mang tới sợi vàng óng ánh hấp dẫn, lại thêm tôm, xá xíu, rau cải đầy đủ, ngon lành thì cậu không thèm ngó tới, trong khi mì của mẹ cậu thì lưa thưa vài miếng trứng với xì dầu mà cậu làm như bắt được vàng. Chưa hết, nhìn cái dáng điệu cậu ăn mới đã. Cậu ngồi sát vào mẹ như một con gà con. Tay trái cậu cầm muổng, tay phải đôi đủa, cả hai tay phối hợp nhịp nhàng. Trước hết cậu gom mì thành một cụm nhỏ vừa đủ một miếng, dồn thêm vài sợi trứng, xong rồi cả muổng lẫn đủa khiêng cụm mì lên ngoạm một miếng vô miệng gọn lỏn. Nói thì lâu chứ cậu ta làm lẹ lắm. Cụm mì mới vào miệng đang nhai là đôi tay đã thực hiện lại động tác gom mì lại như cũ của một chu kỳ nhứt định. Cứ thế cậu không để phí một giây nào. Ngay cả một vài cọng mì dính bên mép cậu cũng không thèm chùi. Chỉ thỉnh thoảng cậu phải ngưng lại chút để thở, và để cho mẹ chùi mép dùm, trong khi cậu nhìn mẹ cười…say đắm. Ôi trên đời này sao lại có thằng con nào sung sướng, hạnh phúc đến như vậy cà? Cậu lại tiếp tục ăn, thì thà thì thụp. Thấy nó ăn mì mà tôi cảm thấy đói bụng và thèm quá đi, thiếu điều muốn nói với nó rằng “ Mày cho tao thử một miếng , được không?”
Chẳng mấy chốc mà tô mì gần hết, cậu ăn chậm lại. Nhưng cậu ăn chậm không phải vì no. Cứ nhìn cái miệng nhỏ nhắn nhai ngấu nghiến thì biết. Cậu sợ hết. Như thể cậu muốn ăn hoài ăn hủy miễn là có mẹ ngồi bên cạnh.
Rồi thì tô mì xào của cậu cũng phải hết. Tôi thấy nó nhai miếng cuối cùng thật lâu, và khi đã bỏ đũa xuống rồi cũng còn dùng tay vét mấy cọng hành nhét vào miệng một cách tự nhiên. Bà mẹ ngồi bên cạnh không cản mà chỉ nhìn tôi cười bẻn lẻn để tôi thông cảm cho thằng con háu ăn.
Tôi thẩn thờ nhìn hai mẹ con và chợt hiểu.
Hành động vét mấy cọng hành cuối cùng của cậu bé sau khi đã làm sạch sẽ tô mì làm tôi nhớ những lúc tôi vét mấy cọng ngò cuối cùng của tô canh thơm do mạ tôi nấu. Tôi nhớ lại hồi nãy thằng con ăn mì say sưa và thỉnh thoảng nó nhìn mẹ nó một cách trìu mến như thể nếu được nó cũng ăn luôn mẹ nó vào bụng. Và tôi nhớ lại lúc ăn canh thơm của mạ, tôi có một cảm giác man mác, êm đềm mà không hiểu vì đâu. Tô mì của cậu bé chắc chắn là không bằng mì tôi mua ở tiệm, cũng như canh thơm của mạ tôi chắc cũng không đậm đà, ngon ngọt như vợ nấu. Nhưng mà cả hai đã được nêm vào một gia vị trân quí nhất trên đời: Gia vị MẸ.
Khi ăn canh của mạ nấu, thì ra tôi đã nuốt vào người tất cả tình thương của mạ gởi gắm trong tô canh. Tôi đã vào cái tuổi mà người ta gọi là tri thiên mệnh. Trên đầu tóc muối như tiêu. Nhưng với mạ thì tôi bao giờ cũng chỉ là một thằng con nhỏ dại mà bà khi nào cũng muốn chiều chuộng chăm sóc. Tôi chợt nhận ra rằng mỗi tô canh của mạ không những đã được nêm đầy gia vị MẸ trong đó, mà nó còn chan chứa cả một quảng đời niên thiếu của tôi. Tôi đã ăn canh như một con bò già ngấu nghiến nhai lại quảng tuổi ấu thơ mà nuối tiếc những chuổi ngày vẫn còn trong vòng tay của mạ.


****
Nhưng mà gần đây mạ tôi đã không nấu nướng gì được nũa. Mạ yếu như một ngọn đèn dầu gần cạn, hiu hắt chờ một cơn gío lớn.
Bây giờ, ngoại trừ những lúc cần phải đi đứng chút đỉnh làm vệ sinh hay uống thuốc, còn thì mạ chỉ nằm trên giường. Trời nắng ấm muà Xuân, mạ đắp mền từ cổ tới chân mà vẫn than lạnh. Những chuyện hôm qua thì mạ quên tuốt, nhưng mà chuyện năm sáu chục năm trước thì mạ tôi nhớ rõ mồn một và cứ nhắc tới nhắc lui dăm ba câu chuyện đó. Mạ kể đi kể lại chuyện thời bà còn con gái mười ba mười bốn tuổi đã tự lập mưu sinh với giỏ hàng Xén nhỏ nhoi bày bán ở chợ ĐÔNG BA ngoài Huế. Có ông Cố Đạo người Pháp dạy học ở đâu đó không biết, mỗi vài tháng lại ra chợ sắm giấy, bút, mực… chỉ ở gánh hàng nhỏ xíu cuả mạ, chứ không bao giờ mua ở những cửa tiệm lớn hơn. Lý do vì mạ tôi là người duy nhất trong khu chợ biết nói bặp bẹ dăm câu tiếng Pháp với ông. Anh em tôi ngạc nhiên hỏi mạ học tiếng Pháp ở trưòng nào? Bà nói trường nào mà trường. Nhà nghèo cơm ngày ba bửa đủ ăn là may rồi, con gái thời đó như mạ làm sao được tới trường. Mạ chỉ học lóm tiếng Pháp từ mấy cậu trong nhà mà thôi. Tụi tôi nể mạ quá xá.
Mạ ngày càng lãng hơn. Một lần tôi ngồi bên, mạ lại bắt đầu kể một chuyện đời xửa đời xưa nào đó của bà mà tôi đã nghe ít nhất một chục lần và đã thuộc lòng. Không hiểu sao bữa đó tôi vô tình quá. Mạ mới nói vài câu là tôi ngắt lời bà, nói là mình đã biết rồi, mạ khỏỉ cần kể nữa. Và để chứng minh, tôi kể tiếp cho mạ khúc tiếp theo để mạ tin là tôi đã biết. Tôi thấy mạ mặt buồn xo, hụt hẩng. Mạ ậm à ậm ừ cố nghĩ một chuyện khác để kể cho tôi nghe thế câu chuyện trên, nhưng luồng tư tưởng quen thuộc của mạ lúc đó bị tôi ngắt bất ngờ nên chưa sắp xếp lại kịp chuyện khác. Mạ chỉ muốn nói để mà nói, và có người ngồi cạnh bên nghe mà thôi. Tôi hối hận quá. Thấy mạ mấp máy môi, ấp a ấp úng hoài nhưng nghĩ chưa ra thiệt là tội nghiệp. May lúc đó tôi nghĩ là phải mớm lời cho mạ nên giả bộ hỏi “ Hồi mạ còn nhỏ, mạ bán gì ở chợ Đông Ba vậy ?” Thế là mạ bắt được đà, bà bèn kể tiếp cho tôi nghe chuyện ông Cố Đạo người Pháp mỗi vài tháng ra mua hàng của mạ…lần này thì tôi nghe một cách thiệt tình, thỉnh thoảng còn bàn thêm vài điều bên lề nữa khiến mạ thích vô cùng.
Ban đầu thì tôi nghe để cho mạ vui. Nhưng càng về sau, tôi thấy như mình cũng có những lúc sống hòa vào với thế giới của mạ. Mạ mới nhắc đến giỏ hàng xén tạp hóa là tôi như thấy cả cái chợ ĐÔNG BA trước mặt mình với rừng người tấp nập, có một cô bé mười bốn mười lăm tuổi gói hàng bán cho một ông Cố râu ria xồm xoàm, aó đen thụng thịnh, tóc trắng toát, cố gắng lắng nghe để hiểu mớ tiếng Pháp chắp vá của cô hàng xén nhỏ tuổi. Thỉnh thoảng ông cưòi to thích thú vì cô hàng xén xinh xinh này nói tiếng Tây thiệt là…tức cười và dễ thương. Cô không biết. Cô tưởng là ông Tây cười khen cô nói hay, nên cô cố nói thêm càng nhiều càng tốt. Và vì vậy mà ông Cố Tây lại càng cười thêm…
Mạ tôi cũng kể cho tôi nghe rằng hồi 9, 10 tuổi gì đó tôi đau một trân kinh hồn. Giữa đêm khuya, tôi nóng sốt đến độ máu cam từ mủi chảy ra như suối. Mạ tôi đã dùng hết khăn trong nhà mà vẫn chưa đủ cho tôi lau. Tôi mất nhiều máu quá đến nổi đã bắt đầu mê man rồi. Lúc đó nhà tôi mới từ Huế dọn vào. Ba tôi vắng nhà đi làm xa. Lạ nước lạ cái, nhà thương bệnh viện ở đâu không biết, hàng xóm neo đơn, mà lại đêm khuya khuya khuắt biết kêu nhờ ai! Mạ tôi chỉ còn ôm tôi vào lòng và cầu nguyện. Lúc đó bà nghe như có tiếng nạng gổ gõ lên sàn nhà, tiếp theo là tiếng dép kéo lê. Rõ ràng là có một người què đang đi trong nhà. Nhưng mạ đã quá mệt mỏi và cũng đang thiếp đi. Rồi bà thấy rõ ràng, không hiểu là thiệt hay trong giấc mơ, một người lính chống nạng gổ đi đến và sờ vào trán tôi, xong rồi ông ta lại kéo nạng đi ra khỏi nhà. Sáng hôm sau, như một phép nhiệm mầu nào mà tôi bớt hẳn, gần như đã hết bệnh mặc dù là chưa uống một viên thuốc nào cả.
Tôi vốn là một thằng bé ham chơi thuở ấy nên đã gây cho mạ không ít nhọc nhằn. Hình như không có một môn chơi nào của con nít trong xóm mà thiếu mặt tôi, từ đánh đáo ăn tiền, đến bắn bi, tạt hình, chọi lính…món nào tôi cũng một cây xanh rờn. Mạ tôi lo tôi ham chơi mất sức rồi bỏ học nên cố kềm bằng cách bắt tôi mỗi trưa phải… đi ngủ. Dĩ nhiên là tôi chỉ nằm trình diễn thôi, đợi cho mạ ngủ là tôi rón rén dậy xách đồ nghề dông một mạch vào xóm chơi. Tỉnh dậy không thấy thằng con đâu, mạ tôi lại phải đội nắng đi vào xóm kiếm. Bà biết đích xác chỗ nào tôi thường đàn đúm. Có những lần tôi đang lom khom cúi nhắm mấy hòn bi dưới đất để bắn thì bỗng thấy đôi dép quen thuộc ngay trước mặt. Khỏi cần nhìn lên tôi cũng đủ biết là ai, bèn ba chân bốn cẳng chạy ù về nhà. Tôi phải về trước mạ, lấy cái khăn hay cái áo nào đó chêm sau mông. Mạ có cái roi đánh đau lắm nên tôi phải lo độn trước kẻo không là …thê thảm. Rồi mạ về tới, bắt tôi nằm xuống nả cho mấy roi. Chẳng đau gì cả nhưng tôi cũng giả bộ la “ui- da ui- da” rối rít. Mạ thấy tội bèn cho… thiếu nợ, chỉ dọa lần sau tái phạm trả gấp đôi. Tôi nào ngán, vì đã có áo giáp hộ thân, và hơn nữa mạ đâu có nhớ? Tôi chỉ thắc mắc một điều là sao mạ không nhận ra sự khác nhau. Khi tôi chưa kịp độn áo sau mông, roi đụng vào thịt thì nó kêu “ bép- bép”; còn khi nào tôi đã kịp độn áo rồi thì nó kêu “ phộp- phộp” rõ ràng như vậy mà mạ không biết nên tôi mặc tình mà lờn mặt.
“Bí mật” này tôi vẫn giử kín gần 40 năm, cho tới khi mới chỉ gần đây thôi. Trong một dịp họp mặt gia đình anh em, con cháu đầy đủ, tôi bèn “ bật mí” lên để chọc mạ cho vui, ai ngờ mạ phản pháo “ Thằng khỉ. Mi tưởng tau ngu không biết mi chêm cái chi đó trong quần hay sao? Tau cố tình lờ cho mi đó chứ!” Cả nhà tôi cười như nước vở bờ, và thằng con tôi là to họng nhất. Nó khoái quá, hả hê khen “ Bà nội thông minh quá. Smart quá. Ba là ‘bad boy’đó bà nội ơi!”. Ha ha. Bà nội có hiểu bad boy là gì đâu, “mày” ơơơi !


***
Một buổi chiều đi làm về, tôi ghé lại để nghe mạ kể chuyện, nhưng bà đang ngủ. Tôi kéo ghế cạnh giường ngồi nhìn mạ.
Đã từ lâu tôi biết là bà không khoẻ, nhưng vẫn nghĩ rằng ai cũng bệnh già thế thôi. Bữa nay tôi mới có dịp ngắm lại mạ lúc bà đang ngủ. Hơi thở của bà sao mệt nhọc quá, khò khè và đứt quảng. Mạ ngủ mà phải há miệng ra để thở và tôi thấy răng của mạ chỉ còn vài cái loe hoe, lủng lẳng! Nhưng điều làm tim tôi nhói lên khi mạ chìa cánh tay ra khỏi mền. Ôi cánh tay của mạ tôi đâu còn là tay nữa mà chỉ là một thanh củi khô, da bọc lấy xương. Lớp da đồi mồi ở ngay bả tay không còn miếng thịt nào để bao bọc nên nó nhẽo nhẹt và lòng thòng một cách thảm thương. Tôi nghe mạ than là khó thở, nhưng không ngờ mạ phải thở một cách khó nhọc như vậy. Tôi biết là mạ ốm, nhưng không ngờ mạ ốm đến giơ xương. Tôi không nở nhìn mạ lâu hơn, phải bước vội ra ngoài tới bàn thờ Phật để ổn định lại tâm hồn .
Trước bàn thờ Phật. Tượng Phật Bà Quan Âm với bình nước Cam Lồ hiền từ nhìn. Bỗng nhiên tôi cảm thấy như có một sự thiêng liêng nào đó phảng phất trong không gian. Một cảm giác lâng lâng khó tả. Tôi thắp một nén nhang và khấn thầm “Thưa Phật. Trước hết con biết tuy là Phật tử, nhưng con không phải là một Phật tử thuần thành được thấm nhuần Phật pháp. Vì vậy mà giáo lý của đức Phật nhiều khi con hiểu chưa thực chính xác, nên nếu con nói có gì không đúng thì đành vậy. Con vẫn thường nghe nói về luật nhân quả của đạo Phật. Nhân nào thì quả nấy. Làm hiền gặp lành và làm ác gặp ác. Bao nhiêu năm qua con nghĩ là mình đã làm nhiều việc thiện. Và con chưa bao giờ mong việc mình làm sẽ mang lại một nhân quả tốt nào cho chính con cả. Nhưng bây giờ nếu đức Phật vì những nhân lành mà con đã gieo, và sẽ cho con những quả tốt như một sự đền bù thì con xin nhận. Không phải cho con, mà cho mạ con. Thưa Phật. Con biết rằng con người sinh ra thì ai cũng đều mang một số mệnh. Ai rồi cũng sẽ đi qua đọan đường sinh, lão, bệnh, tử. Vi vậy mà con không dám cầu cho mạ con sống lâu trăm tuổi. Bởi vì cầu cũng không được. Con chỉ xin cho mạ con được sức khoẻ và sự an nhiên trong quảng đời còn lại là con mãn nguyện lắm rồi. Một mai khi nợ trần đã dứt, xin Phật đón mạ con về trong sự bình yên. Chỉ vậy thôi.”
Có tiếng mạ kêu trong phòng. Tôi đi vội vào kẻo mạ trông và lòng thầm nghĩ không biết bữa nay mạ sẽ kể cho nghe chuyện gì nhỉ? Chuyện ông Cố đạo, hay là chuyện ông lính chống nạng giữa đêm, hay là chuyện… chuyện gì cũng được. Bây giờ thì mạ còn nói, tôi còn được nghe là cũng may mắn, hạnh phúc rồi. Tôi biết là mạ không còn như xưa để thỉnh thoảng nấu canh thơm cho tôi nữa, nhưng cái gia vị MẸ tuyệt vời đó nào phải vì vậy mà mất đi đâu. Nó vẫn đậm đà và nồng ấm qua từng gịong nói, từng cái nhìn của mạ đó mà.
Như hôm kia tôi đến ngồi cạnh bên. Mạ bỗng nhìn lên đầu tôi thật lâu, rồi nói giọng lo lắng “Con bịnh chi mà tóc bạc nhiều quá?”


ThaiNC
3-26-2010

Lễ Vu Lan nhớ mẹ


Mẹ tôi tóc bạc da mồi
Nuôi con tần tảo một đời hy sinh
Chăm con từ thuở mới sinh
Khi con khôn lớn, tận tình bảo ban
Dạy con Hiếu Nghĩa vẹn toàn
Đừng tham danh lợi đa đoan cuộc đời
Lời mẹ dậy cố vâng lời
Nguyện xin đền đáp công ơn của người
Năm xưa mẹ đã qua đời
Chúng con ở lại muôn lời tiếc than
Mỗi năm đến lễ Vu Lan
Cài bông hoa trắng nhớ thương mẹ già
Chắp tay cúi lạy Phật Bà
Nhẩm câu kinh kệ Di Đà mười phương
Thắp nhang quỳ lậy tứ phương
Con xin tu tập theo đường mẹ khuyên
Cầu xin thế giới bình yên
Cầu cho đất nước ba miền yên vui
Đời người dân bớt nổi trôi
Mọi nhà hạnh phúc khắp nơi vui mừng

Nguyễn Mạnh Cường
07/31/2011

DI SẢN NGƯỜI LÍNH





Ngày nào tung hoành bao chuyến bay
Vượt trên khói lửa,chín từng mây
Mấy ai hiểu được người tráng sĩ
Nợ nước, tình nhà, mãi còn đây




Cũng như mọi lần, Huy lại ghé ngang thư viện để mượn thêm vài cuốn sách cho đề tài nghiên cứu của mình. Trường đại học của Huy đang học có một vẻ cổ kính và trang nghiêm như trường đại học Oxford của Anh với những con đường dài gồm hai hàng cây cao có những nhánh vươn dài và đan vào với nhau như con đường Tú Xương đã một thời vang bóng ở Sài Gòn. Mấy hôm nay Cali hơi lạnh, cái lạnh đột ngột và se sắt khiến Huy phải bước nhanh để tiến vào thư viện của trường. Chàng ghé vào máy vi tinh và nhanh chóng tìm kiếm những danh mục có liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình. Danh sách thì dài nhưng rồi Huy cũng tìm được những cuốn sách thích hợp và sửa soạn để rời khỏi thư viện.
Bổng dưng chàng nghe một giọng Bắc nhỏ nhẹ ở đằng sau lưng:
"Xin lỗi, anh có phải là người VN?"
Huy quay lại va chàng trả lời :
"Vâng, Xin lỗi cô cần gì?"
"Em là Trâm, đang học năm đầu của ngành tâm lý giáo dục và em mới tới Cali được sáu tháng. Em đang muốn tới buiding E của Education department thì bị lạc đường. Anh có thể chỉ cho em lối vào Building E được không? Em có lớp học ở đó trong nữa tiếng nữa."
Huy hướng dẩn Trâm tới lớp học của nàng cách đó không xa và thế là từ đó hai người quen nhau.Từ bữa đầu tiên, Tram đã cuốn hút Huy với dáng người mành mai, mái tóc dài ngang vai và một giọng nói dịu dàng. Trâm có một cặp mắt to với hàng lông mi dài và gợi cảm. Mặc dù mới hơn hai mươi lăm, Trâm có một vẻ trầm lặng và già giặn cũa một thiếu nữ ở lứa tuổi ba mươi. Nang ít nói về mình, có vẻ kín đáo và khép kín. Cho tới một hôm, sau khi giúp Trâm thay bánh xe bể, nàng mời chàng về nhà ở gần trường để dùng cơm.
Căn apartment ở trong một khu phố cổ kính và thật là xinh xắn. Bên trong được bài trí một cách vừa phải với những chậu hoa Lan được cắt tỉa một cách khéo léo. Chàng được Trâm giới thiệu với bố nàng, một ngươi đàn ông gầy gò và im lặng. Trâm khẻ nói :
"Bố em là như vây đó với tất cả mọi người từ khi mẹ em qua đời cách đây hai năm. Bây giờ ông đã về hưu và chỉ lo chăm sóc những khóm Lan mà thôi."
Từ từ hai người gần nhau hơn và Huy được biết là bố nàng là môt sĩ quan không quân trong quân lực VNCH. Ong đã ở lại và nằm trong trại cải tạo hơn mười năm. Sau khi tới Mỹ trong diện HO, ông và mẹ nàng làm việc vất vả để nuôi dạy Trâm ăn học thành tài. Chẳng may khi Trâm ra trường và kiếm được việc làm thì mẹ nảng lâm trọng bệnh và ra đi trong một khoảng thời gian thât là ngắn, Trâm nói với Huy :
"Em và ba vẫn còn đau khổ và ngở ngàng nhiều trước sự ra đi của mẹ"
Khi nàng nói xong, Huy thấy đôi mắt nàng đẩm lệ. Huy cảm nhận được sự xúc động của nàng nhiều lắm vì chàng cũng rất la thương mẹ. Mẹ chàng mất cách đây năm năm sau môt cơn bạo bệnh. Bố chàng là một thương gia thành đạt ở Sài Gòn trước năm 75 nên Huy cũng không biết gì nhiều về đời sống của những gia đình quân nhân VNCH. Chàng lại may mắn rời VN trước 30 thang 4 nên cuôc sống của chàng ít gập ghềnh nếu phải so sánh với Trâm. Từ ngày quen Trâm, Huy mới hiểu hơn những sự đau khổ và chịu đựng của những gia đình chiến sĩ VNCH va những gánh chịu họ phải trả khi kẹt lại VN. Chàng cũng nhận thấy là bố Trâm cũng từ từ chịu nói chuyện với chàng nhiều hơn khi chảng tò mò hỏi thêm về đời sống của nhửng người quân nhân trong thời chiến, Ông cũng kể cho chàng nghe nạn trầm cãm mà ông phải chịu đựng cho tới nay sau những năm tháng sống trong ngục tù đọa đầy cua chính quyền CSVN. Có những buổi tôi Ông tỉnh dậy và vẫn cứ tưởng là mình còn năm trong trại cãi tạo, mình mẫy ướt đẩm mồ hôi. Đôi khi Ông giận dữ và làm Trâm và mẹ sợ hãi cho tới khi Ông nhận ra là mình bị trầm cảm và tự tìm cách chửa trị cho mình qua luyên tâp Yoga, tâp thiền va nhờ sự trơ giúp từ bác sĩ tâm lý. Chỉ có một lần, ông gọi chàng ra và nói riêng với chàng:
"Huy à, Bác chỉ có Trâm là con gái độc nhất. Nếu sau này con lấy Trâm, con phải thương yêu và bảo bọc cho nó nhé."
Ba năm sau Huy và Trâm kết hôn. Đươc một năm sau thì Ông mất. Một trong những di sản của Ông là lá cờ vàng ba sọc đỏ mà ông luôn mang theo với ông sau ngày đặt chân tới Hoa Kỳ.
NMC(07/02/2011)

TÂM LÝ TRỊ LIỆU VIỄN LIÊN -Tele psychiatry

Nguyễn Mạnh Cường



Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là một bộ phận của Y Khoa Tri Liệu Viễn Liên (Telemedicine) - YKTLVL. Khoa học nầy sữ dụng thông tin y học trao đổi giửa hai địa bàn thông qua những phương tiện truyền thông điện tữ liên quan đến sức khỏe và giáo dục bệnh nhân hay cơ quan cung ứng dịch vụ y tế và nhằm cải thiện công tác chăm sóc bệnh nhân. Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên bao gồm các dịch vụ tư vấn, chẩn đoán, và trị liệu. TLTLVL đã được thực hiện trên 40 năm nay và sữ dụng kỹ thuật Hội thoại viễn liên (Videoconferencing) để cung ứng dịch vụ tư vấn cho bệnh nhân mắc bệnh tâm lý.

Mục Lục
Tổng Quát
Kỹ Thuật (Technolgy)
Màn Hình (Monitor)
Máy Thu Hình (Camera)
Bộ Phận Mật Mã (CODEC)
Dải Tần (Bandwidth)
Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)
Những Yếu Tố thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)
Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)
Phúc Lợi (Benefits)
Vấn Đề (Issues)
Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)

Tổng Quát

Các hệ thống TLTLVL do Wittson thiết lập vào đầu thập niên 1950 tạI TâmLý Học Viện Nebraska (NPI). Trong tài liệu nhan đề “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatry Care”, Mark Moran cho biết, “Hầu hết các bác sỹ tâm lý đều đồng ý rằng nếu điều kiện cho phép thì việc chẩn đoán và trị liệu trực diện vẫn tốt hơn hết. Tuy nhiên họ nói rằng TLTLVL là một phỏng đoán đủ chính xác để mọi người chấp nhận ngay khi phương pháp trị liệu thường thiếu những dịch vụ về tâm lý.” Mặc dù vẫn còn những vấn đề liên quan đến phương thức thực hiện, phẩm chất và một số những trở ngạI hiện có trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL, kỹ thuật nầy đang càng ngày càng được chấp nhận hơn đới với các bác sỹ tâm lý, các công ty cung ứng dịch vụ y tế và những bệnh nhân ở những vùng quê cũng như quân đội.

Vậy thì Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên (YKTLVL) và Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là gì?

YKTLVL, trong đó có TLTLVL, thường ám chỉ bất kỳ dạng kỹ thuật nào có thể giúp chửa trị y khoa từ hai vị trí địa lý khác nhau - Điện thoại, Fax, lưu trử hồ sơ điện tữ (electronic record keeping), email, Internet để phổ biến tài liệu hướng dẩn cho bệnh nhân. Nhưng kỹ thuật có tiềm năng xa tầm và thích ứng cao nhất là Hội Thoại Viễn Liên (Videconferencing), giúp bác sỹ và bệnh nhân nhìn thấy nhau và đối thoại vớI nhau từ những địa bàn xa qua một máy thu hình và một màn ảnh truyền hình. Và ngày nay, TLTLVL - sữ dụng kỹ thuật để trị liệu và giáo dục tâm lý từ những vị trí địa lý xa nhau – có thể biến thành sự thật những gì trước dây được coi là ngông cuồng.

Trên đay hai từ YKTLVL và TLTLVL đả dưọc định nghĩa rõ ràng và kỹ thuật thông thường nhất dùng cho TLTLVL là Hội thoại viễn liên (Videconferencing) - HTVL. HTVL đã được sữ dụng và thử nghiệm trong một số hệ thống YKTLVL và các nhà chuyên viên nghĩ rằng “TLTLVL hứa hẹn sẽ bành trướng dịch dụ điều trị tâm lý, đặc biệt trong những vùng xưa nay vốn thiếu những dịch vụ nầy.” Và một số nghĩ rằng “đó là trào lưu của tương lai” (Rodrigo Muñoz, M.D, Chủ tịch Hiệp Hội Tâm Lý Hoa Kỳ). YKTLVL tạo điều kiện phỏng vấn bệnh nhân ở cách xa hàng dặm. Đó là một một ứng phó trước tình trạng phân phối không y sỹ đồng đều, và là cơ hội để thăm dò giới hạn hiệu năng của khoa học kỹ thuật.

Kỹ Thuật (Technology)

Các Bác sỹ Tâm lý nhờ vào kỹ thuật HTVL để phỏng vấn, cố vấn và chẩn đoán bệnh nhân. Hình 1 tượng trưng một biểu đồ của những hệ thống HTVL điển hình dùng cho YKTLVL trong một tài liệu nghiên cứu gần đây về HTVL. Biểu đồ minh họa những thành tố chính của các hệ thống YKTLVL/TLTLVL, gồm có màn hình, máy thu hình, bộ phận mật mã, máy vi tính, vi âm, và loa phóng thanh.

Màn Hình (Monitor)

Màn hình chiếu lên hình ảnh hoạt trường và những ngườI liên hệ ở đầu bên kia. Các phòng có thể chia thành nhiêu đơn vị và chiều dài mỗI đơn vị tốI thiểu là 33 feet. Một màn hình vi tính 17 inch là thích hợp nhất cho những cuộc phỏng vấn thường lệ.

Máy Thu Hình (Camera)

Máy thu hình dùng để thu những hình ảnh tạI hoạt trường và gởI hình qua đầu bên kia. Chất lượng của lăng kính rất quan trọng và những lăng kính có hoành độ rộng (wide-angle lens) rất hữu ích khi hoạt trường có từ hai ngườI trở lên.

Bộ Phận Mật Mã (CODEC)

Bộ phận nầy là đầu nảo của hệ thống HTVL, giúp chuyển những tín hiệu định hình (analog signals) mà máy thu hình nhận được sang tín hiệu định số (digital signals) và thu nén chúng lại (compress) trước khi truyền tải sang bên kia. Ở đầu bên kia, một bộ phận tương tự chuyển những tín hiệu ngược trở lại dạng định số để có thể xem được trên màn hình.

Dải Tần (Bandwidth)

Từ nầy ám chỉ số lượng dữ kiện (data) có thể truyền tải trong một thời gian cố định. Những Hệ Thống Định Số Hệ Phân Toàn Vụ (ISDN – Integrated Services Digital Networks) được sữ dụng để tránh dị dạng về hình ảnh và âm thanh (image and voice distortion).

Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)

Với những trang thiết bị và nhu liệu điện toán, máy vi tính được dùng để cung ứng những lập trình đối tác (interactive applications) và HTVL.

Trang thiết bị dành cho YKTLVL khác biệt rất nhiều về giá cả, từ vài trăm Dollar để sữ dụng Internet cho đến trên $60,000 cho những hệ thống thượng thặng dùng cho cả phòng. Cái khó khăn khi phỏng định giá cả cho TLTLVL càng trở nên phức tạp hơn vì tính chất năng động của kỹ thuật HTVL.

Khi so sánh phương pháp phỏng vấn trực diện cỗ truyền vớI phương pháp phỏng vấn TLTLVL theo những điều kiện và chẩn đoán khác nhau, các nhà nghiên cứu theo dõi quá trình thử nghiệm những hệ thống TLTLVL cho biết, “Sự gián cách giửa bác sỹ điều trị và bệnh nhân gần như không có ảnh hưởng gì trong những lần trị bệnh.” Từ cuộc thử nghiệm áp dụng những hệ thống TLTLVL đầu tiên, các nhà nghiên cứu “nhận thấy các bệnh nhân và thân quyến của họ tiếp thu rất tốt đối với hình thức truyền thông nầy.”

Những Yếu Tố Thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)

Căn cứ trên những tài liệu phê bình về những hệ thống TLTLVL, năm yếu tố thành công then chốt được mô tả như sau:

1. 1. Thóa đáng (Satisfactory): Những hệ thống TLTLVL phải được thực hiện với những một thiết bị đối tác thân thiện (friendly user interface) và cung ứng những dịch vụ gíup bác sỹ cảm thấy thoảI mái khi sữ dụng.
2. 2. Dễ truy cập (Accessibility): Những hệ thống TLTLVL phảI dễ truy cập trong những vùng nông thôn hay hẻo lánh vớI dảI tần hạn chế.
3. 3. Chất Lượng (Quality): Hình ảnh tốt và không bị trục trặc trong khi phỏng vấn hay tham vấn.
4. 4. An Toàn (Security): Bảo mật dữ kiện, hình ảnh và thông tin của bệnh nhân.

Những yếu tố thành công then chốt nầy sẽ giúp những người quản lý công trình tạo được một kế hoạch công trình tốt, tránh thất bại khi thực hành và triển khai hệ thống TLTLVL. Thực vậy, mọi công tác HTVL muốn thành công cần phải có khả năng làm cho bệnh nhân vui thích với những dịch vụ của mình. Phẩm chất của dự án gồm có: hình ảnh phải tốt, âm thanh rõ, và hệ thống dễ sữ dụng và điều khiển. Nếu những hệ thống HTVL được liên kết với các hệ thống y tế khác và được sữ dụng như nhữn phương tiện trị liệu thì nó cần được đảm bảo sẽ bảo mật những riêng tư của bệnh nhân. Hiệu năng cũng là một yếu tố then chốt khác của các hệ thống HTVL vì hầu hết những Trưởng Phòng Điều Hành (CEO) và Tổng Quản Đốc đều muốn hệ thống phảI hoạt động liên tục trong thời gian hội thoại.

Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)

Đa số các hệ thống TLTLVL đều có một cơ cấu truyền thông hạ tầng hổ trợ kỹ thuật truyền tin nội bộ giửa các máy vi tính (TCP/IP) và trên mạng. Các bác sỹ tâm lý sẻ phỏng vấn bệnh nhân bằng phương pháp trực diện cỗ truyền hay sữ dụng kỹ thuật trên mạng theo ngôn ngữ lập trình .NET, Định trường 3.5 (Framework 3.5), hay Java theo lối hỏi/đáp. Họ có thể thực hiện những báo cáo thẩm định và đề nghị phương án điều trị căn cứ trên những báso cáo nầy. Với đà phát triển mạnh và nhanh của kỹ thuật HTVL, các bác sỹ tâm lý có thể đủ khả năng để tiến hành phỏng vấn bệnh nhân và theo dõi việc điều trị bằng điện thoại di động hay những hệ thống truyền hình có độ rõ cao (HD systems).

Các tiêu chuẩn sữ dụng những hệ thống HTVL được định nghĩa bỡi Ủy Hội Viễn Thông Quốc Tế (ITU) tại Thụy Sỹ. Dưới đây là một số những tiêu chuẩn được các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ sữ dụng:

• • H.320 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại viễn liên có dải tần hẹp (narrow bandwidth) sữ dụng mạch điện xoay chiều như N-ISDN, SW56, các hệ thống đặc dụng (dedicated networks)
• • H.321 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
• • H.323 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật không đảm bào chất lượng (LAN – Local Area Network, Internet, v.v.)
• • H.324 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rất hẹp sữ dụng hệ thống điện thoại thường
• • H.310 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rộng và sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)

Phúc Lợi (Benefits)

Khi sữ dụng những hệ thống TLTLVL, bệnh nhân có thể tiết kiệm được thì giờ và tiền bạc vì có thể khám bệnh mà không cần phải đi đến phòng mạch bác sỹ. Sau đây là những thí dụ điển hình về việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania:

“Việc sữ dụng YKTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania giúp giảm thiểu số lượng vận chuyển bệnh nhân bằng máy bay tới Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield. Số lượng bác sỹ TLTLVL tại FMC-Lexington cùng với nghiệp vụ chuyên môn của họ được xem như đã giúp điều trị và theo dõi những bệnh nhân tâm thần hiệu quả hơn. Đối với những bệnh nhân được ổn định và được theo dõi như thế, những khủng hoảng đã tránh được. Khi tâm lý những tù nhân trở nên xáo trộn họ tìm đến ngay các bác sỹ TLTLVL để những người nầy có thể tìm cách nói để xoa dịu họ xuống, nhờ đó chuyển hướng được một cơn khủng hoảng cấp tính và không phải chuyển bệnh nhân đến trại tâm thần tại Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield.”

Ngoài vấn đề tiết kiệm tiền bạc và thì giờ, những hệ thống TLTLVL có thể dùng để huấn luyện y tá và viên chức cải huấn biết cách đối phó với hành vi quá khích của các tù nhân bị bệnh tâm thần trong khi giám sát những hoạt động hằng ngày của họ hầu ngăn ngừa bạo động.

Vấn Đề (Issues)

Vẫn có những vấn đề kỹ thuật trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL. Trước nhất, một số bác sỹ vẫn không muốn ssũ dụng chúng vì họ chưa cảm thấy tụ tin khi ssữ dụng kỹ thuật nầy và một số hệ thống và lập trình hãy còn chưa hoàn toàn dễ sữ dụng, khó khai triển và thực hành. Thứ hai, nếu sữ dụng một hệ thống với dải tần hẹp thì có thể sẽ bị châm trể trong khi phỏng vấn hay tham vấn. Một số hệ thống sữ dụng truyền hình với độ rõ cao (HDTV) sẽ cung ứng hình ảnh chất lượng cao và âm thanh rõ và không bị chậm trể hay trục trặc nếu hoạt động trong hệ nội bộ (LAN/WAN). Tuy nhiên, tốn phí hãy còn rất cao ($20,000 - $60,000 mỗi hệ thống). Kỹ thuật nầy còn đòi hỏi tốn phí để huấn luyện nhân viên vi tính để yểm trợ, bảo trì, và liên kết hệ thống TLTLVL với cơ cấu tin học hạ tầng (iT infrastructure).

Mặc dù những hệ thống TLTLVL còn một số vấn đề kỹ thuật, việc sữ dụng chúng sẽ tiếp tục phát triển trong 10 năm tới. Với giá xang dầu tăng cao, bệnh nhân sẽ thích sữ dụng các hệ thống TLTLVL hơn là đi đến các phòng mạch bác sỹ. Kỹ thuật cũng cho phép bệnh nhân chọn ngày giờ hẹn với bác sỹ tâm lý và họ cũng có thể xem được kết quả thử máu hay các kết quả thử nghiệm khác qua những lập trình vi tính trên mạng. Các bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng có thể sữ dụng những hệ thống nầy để cung ứng dịch vụ tốt hơn cho bệnh nhân của mình và huấn luyện những đồng nghiệp trong cùng ngành. Với công tác chỉ đạo hiệu quả trong qủan trị y tế, bệnh viện, những định chế nghiên cứu, những nhà lập pháp, cơ quan liên bang và tiểu ban, các hệ thống TLTLVL sẽ gia tăng trong các bệnh viện, quận hạt, tiểu bang, quốc gia và ngay cả tại tư gia của chúng ta. Chiều hướng đó sẽ gia tăng truy cập cho các bệnh nhân, thành viên, chuyên gia, bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng.

Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)

Theo một tài liệu của Hiệp Hội Viễn Thông Quốc Tế (Comité Consultatif international Télégraphique et Téléphonique), tiêu chuẩn kỹ thuật H323 được mô tả là một trong những thành tố trọng yếu trong công trình triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng (voice-over iP services). “Tiêu chuẩn H323 được coi là trọng yếu trong việc hổ trợ triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng, và nhận được sữ yểm trợ rộng rãi của các công ty sản xuất thiết bị nhờ vào khả năng đa hệ (interoperability) của nó. Người ta ước tính những hệ thống sữ dụng tiêu chuẩn H323 truyền tải được hàng tỷ phút âm thanh mỗi tháng. H323 cũng được sữ sụng trong các hệ thống HTVL.”

Bên cạnh là cấu trúc của một hệ thống HTVL điển hình dùng cho các hệ thống TLTLVL sữ dụng H323 với nhiều điểm kiểm định (Multiple Control Points).



Hệ thống HTVL hổ trợ điện thoại di động, máy vi tính cá nhân, máy truyền hình độ rõ cao, và những lập trình trên mạng. Bệnh nhân, công ty cung ứng dịch vụ y tế, nhân viên cải huấn có thể vào hệ thống bằng điện thoại di động, hay máy vi tính cá nhân co gắn Webcam (máy thu hình trên máy vi tính) có dịch vụ Internet hay máy truyền hình sữ dụng hệ thống ISDN để tham vấn với bác sỹ tâm lý mà không cần phải mang bệnh nhân tới phòng mạch. Hệ thống sẽ giúp tiết kiệm thì giờ và tiền bạc cho gia đình và cơ quan chính phủ. Bệnh nhân vẫn có thể hưởng được những dịch vụ thích hợp vớI thờI gian chờ đợI ngắn hơn. Ngoài ra, bệnh nhân vẫn có thể hưởng được sự hổ trợ và tham vấn từ bác sỹ ngay cả khi sinh sống trong những miền quê hay nơi hèo lánh hoặc đang đi du lịch bằng cách gởi thông điệp bằng chử trên điện thoại di động.




Bản TiếngAnh

Telemedicine is the use of medical information exchanged from one site to another via electronic communications for the health and education of the patient or healthcare provider and for the purpose of improving patient care. Telemedicine includes consultative, diagnostic, and treatment services. Telepsychiatry has been implemented for over 40 years and uses videoconferencing technology to provide consulting services for patients with mental illness.
Contents

Introduction
Technology
Monitor
Camera
CODEC
Bandwidth
Personal Computer
Critical Success Factors
Infrastructure and Framework
Benefits
Issues
Future Applications
See Also
References


Introduction
The first Telepsychiatry systems were implemented by Wittson in the early 1950s at the Nebraska Psychiatric Institute (NPI). According to “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care “, Mark Moran states, “Most psychiatrists agree that when possible, face-to-face assessment and treatment are optimal. However, they say that Telepsychiatry is a close-enough approximation to make it more than acceptable when the alternative is no access to psychiatric services. “[1] Even though there are still issues related to implementation, quality and some existing barriers for using Telepsychiatry systems, the technology is becoming more and more adopted by psychiatrists, healthcare providers and patients living in rural areas as well as the military.
Then what are Telemedicine and Telepsychiatry? “Telemedicine, of which Telepsychiatry is a specialty, refers generally to the use of any kind of technology to facilitate the practice of medicine across distances—phone, fax, electronic record keeping, e-mail therapies, and use of the Internet to post educational material for patients. But the model that has the most far-reaching and transformative potential is the use of videoteleconferencing (VTC), allowing physicians and patients to see and talk to each other in remote sites using a video camera and television screen.“ [1]And today "Telepsychiatry"—the use of technology to facilitate psychiatric treatment and education across distances—could turn what once seemed like a whimsical fantasy into reality.” [1]
In the previous paragraph, Telemedicine and “Telepsychiatry” have been clearly defined and the most common technology was used for Telepsychiatry is Video Teleconferencing (VTC). The VTC technology had been used and tested in some Telemedicine systems and the experts think “it promises to expand access to psychiatric care, especially in traditionally underserved areas and practice settings” and some think it is the wave of the future," said former APA president Rodrigo Muñoz, M.D. "Telemedicine makes it possible to interview someone who is miles away from you. It is a response to the maldistribution of physicians and psychiatrists, and it is an opportunity to explore the limits of the power of technology."

Technology

Psychiatrists rely heavily on video conferencing technology to interview/consult and examine patient. Figure 1 shows a diagram of typical Telemedicine video conferencing systems in a recent study of a video conferencing project [7]. The diagram illustrates the major components of any Telemedicine/Telepsychiatry systems that are including monitors, cameras, CODEC, a desktop computer, microphones, and speakers.





Monitor
The monitor shows a picture of a local site and the image of the people at the distant site. Rooms can be divided into many units and each unit is 33’’ or larger. A 17’’ desktop monitor is preferred for routine interview.

Camera
The camera is used to capture the image at the local site and send it to the other site. The quality of the lens is very important and wide-angle lens is useful if more than one or two people to be viewed.

CODEC
“The CODEC (coder-decoder) is the heart of the teleconferencing device. It transforms the analog signal(the picture) picked up by a video camera to a digital signal and compresses it for transmission to the distant site; there, another CODEC transforms the digital back to an analog one for viewing the video monitor.”

Bandwidth
The bandwidth refers to the amount data that can be transmitted in a fixed amount of time. Digital ISDN (128Kbps) lines are used to avoid image and voice distortion.

Personal Computer
A desktop computer can be used with hardware and software packages to provide interactive applications and videoconferencing.

“Telemedicine equipment varies widely in cost, from a few hundred dollars for Internet access to $60,000 plus to top range room systems. The difficulty in quoting costs for Telepsychiatry is further complicated by the dynamic nature of the video conferencing technology”. [7]

By comparing the traditional face-to-face interview with the Telepsychiatry interview using the video conferencing technology across the various diagnoses and conditions, the researchers involved in the trial of the implementation of the Telepsychiatry systems said, “The isolation of the therapist from the patients had almost no effect on group sessions”. From the trial of the first implementation of Telepsychiatry systems, researchers “found patients and relatives were very receptive to this form of communication.”

Critical Success Factors
Based on literature review on the existing Telepsychiatry systems, five critical successful factors have been identified as follow:
1) Satisfactory : the Telepsychiatry systems has to be implemented with a friendly user interface and provide the services that makes the psychiatrist feel comfortable with using them
2) Accessibility : Telepsychiatry systems has to be easily access in the rural, isolated areas with limited bandwidth
3) Quality : Good image and no down time during the interview/consultation
4) Security : protect patient’s data/image and information

These Critical Success Factors will help the project managers create a good project plan, avoid failure for their future implementing and deploying Telepsychiatry systems.

Indeed, every successful videoconferencing needs to be able to make users happy with its services. The Quality of the projects like good images, sound needs to be clear and the systems are easy to be used and operate are key factors for successful. If the conferencing systems are integrated with other health care systems and are used as tools to treat patients, it needs to be secured to protect privacy of patients. Performance is also another key factor for conferencing systems because most CEOs and senior management will expect systems up and running without any interruption during their meetings or conferences.

Infrastructure and Framework

Most of the latest Telepsychiatry systems will have a telecommunication infrastructure supporting TCP/IP protocol and internet technology. The psychiatrists will interview their potential clients by traditional way like face to face interview or using web-based application using .Net framework (3.5) or Java technology to click and choose the answer. They can make assessment reports and suggesting treatment plan based on those assessment reports. With the growing strong and fast of video conferencing technology, psychiatrists might be able to conduct interview with their patients and follow up their treatment using cell phone/HD systems.

The standard of using video conferencing systems is defined by International Telecom Union (ITU) based in Geneva, Switzerland. Here are some of the standards used by the manufactures and service providers:

• H.320 is a standard for Narrow-band videoconferencing over circuit-switched networks(N-ISDN, SW56, dedicated networks)
• H.321 is a standard for Narrow-band videoconferencing over ATM and B-ISDN
• H.323 is a standard for Narrow-band videoconferencing over non-guaranteed quality-of-service packet networks (LAN, Internet, etc.)
• H.324 is a standard for Very narrow-band videoconferencing over the general (dial-up) telephone network

Benefits

By using Telepsychiatry systems, we can save time and money by allowing patients getting consulting office without going to the doctor’s office. Here is one of the good examples of using Telepsychiatry systems for three Pennsylvania prisons:
“The use of Telemedicine systems for three Pennsylvania prisons helps to reduce number of emergency airlift to Federal Medical Center at Springfield. The availability of psychiatrists at FMC-Lexington, via Telemedicine, and their expertise were thought to result in more effective medication and monitoring of prisoners suffering from psychiatric illnesses. With prisoners, thus stabilized and monitored, crises were avoided. When prisoners became agitated, they had quick access to the remote psychiatrist, who was able to "talk them down," thereby sidetracking a downward spiral and averting a transfer to the psychiatric ward at Federal Medical Center at Springfield.”[6]

Besides saving time and cost, Telepsychiatry systems can be used to train nurses and correctional officers to deal with extreme behavior of mental prisoners while monitoring their daily activities to prevent violence. In this way, Telepsychiatry systems will help save money and time while providing users with a better quality of health care services.
Issues

There are still technical issues with the use of Telepsychiatry systems. First, some doctors still not want to use them because they still not feel comfortable with using technology and some systems and applications are still not quite easy to use, hard to deploy and implementation. Second, if the systems using a system with a low bandwidth, it will cause some delay during the interview or consultation. Some systems using High Definition TV will provide a very high image quality and clear sound with no delay and down time if it is running on the LAN or WAN with the high bandwidth. However, the cost is still high ($20,000-$60,000 per system). It also requires additional cost for training IT personnel for supporting, maintaining, and integrating Telepsychiatry systems with the existing IT infrastructure.

Although Telepsychiatry systems still have some technical issues, their use will continue to grow in the next 10 years. With the rise of oil prices, patients will prefer to get consultation services through the use of video conferencing technology instead of going to the doctor’s office. This will also allow patients to schedule their appointments with psychiatrists and they can also see their blood/medical test results through web based applications. Doctors and psychiatrists can use these systems to provide better services for their patients and help them educate fellow healthcare professionals. With the strong leadership of healthcare administration, hospitals, research institutions, law makers, local and federal agencies, their will be an increase of Telepsychiatry systems implementation in hospitals, counties, states, countries and even our home. This will allow greater access for patients, members, professional personals, doctors and psychiatrists.
Future Applications


According to a paper published by CCITT name “CCITT-50 years of excellent - 1956-2006”, H.323 family as describe as one of the crucial components for developing voice over IP services as follow “The H.323 family of standards has been crucial in fostering the development of new voice-over IP services, winning widespread support from equipment vendors because of the interoperability that it enables. It is estimated that systems using H.323 carry billions of voice minutes each month. H.323 is also widely used in videoconferencing systems.”[8]

Here is the system architecture for a typical video conferencing system for Telepsychiatry systems using Multiple Control Points and using H.323 family of standard in the figure 2 below.




Figure 2: System architecture of a video conferencing system

In the above system, we can see that the videoconferencing supporting mobile phone, PC, HD TV and the web-based applications can run on the desktop computer, mobile phones. Patients/provider/correctional officers can connect to the systems using cell phone (3G network) or computer with web cam using IP network or TV using ISDN network to request consultation from a psychiatrist without bringing mental patients to his/her office. It will help to save money and time for family and government agency and patients can get the appropriate service with less waiting time. Also, patients can still get support and consultation from the psychiatrist even when they live in rural/isolated areas or are traveling via text messaging.

See also

Telemedicine - http://en.wikipedia.org/wiki/Telemedicine
Psychiatry - http://en.wikipedia.org/wiki/Psychiatry


References

[1]. Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care http://pn.psychiatryonline.org/cgi/content/full/39/6/14. .Retrieved on 06/10/08
[2]. ISDN. ISDN Protocols - LAPD | ISDN. Retrieved June 24th, 2008, from http://www.protocols.com/pbook/isdn.htm
[3]. Lawlor, T. LCD projectors, Audio/Video equipment and computers from M Communications. Video Conferencing Gaining Popularity. Retrieved on 06/10/08 from http://www.mcommunications.com/tips/vidConfLaw/.
[4]. Tandberg. Key Considerations for Maximizing - Your Video Architecture: Moving Beyond Point-to-Point Conferencing. July 2005. 13 p.
[5]. Tandberg. Video Conferencing Standards 2.2. D10740. 12 p.
[6]. Telemedicine Averted Costly Transfers to Federal Medical Centers. Retrieved June 16th, 2008, from http://www.ncjrs.gov/Telemedicine/c2c.html.
[7].LeRouge, C.& Garfield, M.J, and Hevner, A.R,”Quality Attributes in Telemedicine Video Conferencing”, Proceedings of the 35th Hawaii International Conference on System Sciences, 2002.
[8]. CCITT-50 years of excellent -1956-2006. Retrieved on 06/16/08 from www.itu.int/ITU-T/50/docs/ITU-T_50.pdf.

Hội Thoại Viễn Liên

Tài Liệu Thuyết Trình của Nguyễn Mạnh Cường
Giáo Sư Đông Yên Lương Tấn Lực phiên dịch


Mục Lục
1. Nội dung chính
2. Định nghĩa tổng quát
3. Lịch sữ hội thoại viễn liên
4. Lý do phát triển của Hội thoại viễn liên
5. Lý do Hội thoại viễn liên không được ưa thích
6. Lượt đồ hệ thống hội thoại viễn liên
7. Tiêu chuẩn các hệ thống hội thoại viễn liên
8. Những thành tố chính của hội thoại viễn liên
9. ISDN and CODEC
10. Phân loại các hệ thống hội thoại viễn liên
11. Những yếu tố thành công trọng yếu
12. Kết luận


1. Nội dung chính của bài thuyết trình nầy đề cập đến định nghĩa khái quát của kỹ thuật hội thảo viễn liên, những thành tố chính của hệ thống, mhững lợi điểm và những yếu tố mấu chốt quyết định sự thành công, và viễn tượng của hội thảo viễn liên.







2. Định nghĩa tổng quát

• Hội thảo viễn liên sữ dụng những phương tiện truyền thông về hình ảnh và âm thanh để nối kết các thành viên tham luận từ những vị trí địa lý khác nhau vì mục đích hội thảo, huấn luyện, và tham vấn.
• Thành phần tham dự có thể gồm hai người tại hai văn phòng khác nhau (một đối một) để mạn đàm thông thưòng hay ba người trở lên từ những ví trí địa lý khác nhau nhằm mục đích hội nghị viễn liên (đa phương).
• Hội thảo viễn liên không những chĩ để truyền đi những hình ảnh và âm thanh của các thành viên, mà còn để chia sẻ những tài liệu, những thông tin bằng hình, và những phương tiện nhu liệu giúp họ cùng làm việc với nhau trên một tài liệu chung trên mạng (whiteboards).





3. Lịch sữ hội thảo viễn liên

• Hội thảo viễn liên được trình bày lần đầu năm 1968. Hệ thống do AT&T khai triển thất bại vì hình ảnh không rõ và kỹ thuật nén hình không hiệu quả (efficient video compression techniques). Kỹ thuật vận hình thông qua hệ thống điện thoại thường.
• Vào những năm thập niên 1980, ra đời những hệ thống điện thoại định số (digital telephony transmission networks). Kỹ thuật nầy truyền tải hình ảnh và âm thanh đã nén với nhịp độ tối thiểu khoảng 128 kilobit mỗi giây. PictureTel sáng chế hệ thống hội thoại viễn liên đầu tiên sữ dụng kỹ thuật định số hệ phân toàn vụ (ISDN – Integrated Services Digital Network) , thay cho hệ thống điện thoại định hình (Analog) dựa trên định lượng và cường độ. Hệ thống hội htoại nầy sau đó được phát triển nhanh trên toàn thế giới.
• Đến thập niên 1990, hội thoại viễn liên dựa trên kỹ thuật Internet được sáng lập với kỹ thuật nén hình hiệu quả, tạo điều kiện hội thoại viễn liên qua các máy điện toán cá nhân. Hệ thống VTC (Videoteleconference) được phát triển với những dịch vụ và nhu liệu miễn phí như NetMeeting, MSN Manager, Yahoo Messenger.

4. Lý do phát triển của Hội thoại viễn liên

• Đàm thoại sống thực
• Đối tác qua đồ hình là thành tố quan trọng của đàm thoại
• Hội thoại viễn liên hiệu quả mà ít tốn kém
• Giảm thiễu những rủi ro về an ninh, đặc biệt đối với những cuộc điều trần, luận tội, ngôn chứng, và những cuộc họp cơ bản
• Không đòi hỏi di chuyển
5. Lý do Hội thoại viễn liên không được ưa thích

• Các thành phần tham dự cảm thấy không thoải mái trước ống kính
• E ngại về kỹ thuật
• Đôi lúc hình ảnh không được tự nhiên vì màn hình bị nháy hay ánh sáng không tự nhiên
• Đôi khi máy hỏng
• Đòi hỏi chuẩn bị hạ tầng
• Tốn phí hãy còn cao (từ 5000-20000)
6. Lượt đồ hệ thống hội thoại viễn liên

• Một hay nhiều thành viên ngồi trong một căn phòng với hệ thống hội thoại viễn liên
• Một máy camera thu hình các thành viên
• Hình ảnh được chuyển hệ và gởi đi theo hệ thống ISDN (hệ thống định số hệ phân toàn vụ)
• Ở đầu bên kia, hình ảnh đó được giải định lại (re-configured) và chiếu lên màn ảnh truyền hình
• Một dải tần cao (high bandwidth) để cung ứng hình ảnh tốt
• Hầu hết các hệ thống sữ dụng đường giây điện thoại T-1 (cable) hay ISDN

7. Tiêu chuẩn dành cho một hệ thống hội thoại viễn liên theo Hiệp Hội Viễn Thông Quốc Tế (ITU – International Telecommunication Union)

• • H.320 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại viễn liên có dải tần hẹp (narrow bandwidth) sữ dụng mạch điện xoay chiều như N-ISDN, SW56, các hệ thống đặc dụng (dedicated networks)
• • H.321 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
• • H.323 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật không đảm bào chất lượng (LAN – Local Area Network, Internet, v.v.)
• • H.324 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rất hẹp sữ dụng hệ thống điện thoại thường
• • H.310 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rộng và sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)

8. Những thành tố chính của hội thoại viễn liên

• Camera hay Webcam để thu hình và tiếng
• Màn hình computer hay máy truyền hình (computer monitor or television) để phát hình
• Máy vi âm (micro) để thu âm
• Loa gắn vào hệ thống phát hình hay đường dây điện thoại để phát âm
• Hệ thống điện thoại thường hay định số (analog or digital), hệ thống network địa phương (LAN – Local area network) hay Internet để truyền tải dử kiện
• Bộ phận mã hóa/giải mã (CODEC) để hoán chuyển tín hiệu hình và tiếng giửa dạng định hình và định số (between analog and digital signals).

8. ISDN và CODEC

• • ISDN (Integrated Services Digital Network - hệ thốngđịnh số hệ phân toàn vụ) là một kỹ thuật lập hệ (network protocol) bao gồm những dịch vụ điện thoại định số và truyền tải dữ kiện do các hảng điện thoạiđịa phương cung ứng. ISDN phục tráchđịnh số hoá (digitalization) hệ thống điện thoại để truyền tải âm thanh, dử kiện, tài liệu, đồ hình, âm nhạc, phim hình, và những nguồn tài liệu khác qua đường dây điện thoại.
• • CODEC (coder-decoder – mã hóa và giải mã) là yếu tốthen chốt của các hệ thống hội thoại viễn liên. Bộ phận nầy hoán chuyển những tín hiệu định hình (analog signals) nhận từ camera sang dạng định số (digital) và nén chúng lại để gởi đi. Một bộ phận CODEC ở đầu bên kia sẽ hoán chuyển những tín hiệu trên ngược trở lại dạng định số (analog) đế có thể xem trên màn hình.

9. Phân loại các hệ thống hội thoại viễn liên

• • Sữ dụng Personal Computers (máy điện toán cá nhân): Thiết bị dùng cho hội thoại viễn liên qua máy điện toán cá nhân giúp những người tham gia đối tác ngay từcomputer của mình - với các đặc điểm như: số người hiện diện, đối thoại (chat), âm thanh, hình ảnh, và hợp tác trên mạng - nhờ vậy số nhân viên sữ dụng computer để hội thoại sẽ tăng lên.
• • Sữ dụng Laptops điều hành (Executive Laptops): Một hệthống toàn vẹn gồm một camera có độ rõ nét cao (HD Camera), loa và một màn hình phẳng mặt (flat panel display) có thể rộng gấp hai lần màn hình máy điện toán cá nhân (PC monitor)
• • Sữ dụng văn phòng: Nhiều thành viên trong một văn phòng đối tác với những thành viên khác trong một phòng khác
• • Sữ dụng độ rỏ nét cao (High Definition): có thể cung ứng độ rỏ của hình gấp hai lần theo chiều ngang và chiều dọc và phẩm chất gần 10 lần so với các hệ thống cũ,nếu có dải tầng thích hợp (appropriate bandwidth)

10. Những yếu tố thành công trọng yếu

• • Thoả mản những người tham dự
• • Dễ tiếp cận
• • Chất lượng cao
• • An toàn
• • Hiệu quả cao

11. Kết Luận

• • Cơ quan nghiên cứu Wainhouse tin rằng khả năng to lớn mà Internet2 cung ứng sẽ có một tác động ưu thế trên công tác giáo dục viễn liên, và đặc biệt trên việc sữ dụng truyền hình đối tác hai chiều trong lớp học
• • Chúng ta tin rằng các công ty có thể bắt đầu gia tăng việc sữ dụng hội thoại viễn liên để ứng phó với điều kiện di chuyển mỗi ngày một khó khăn hơn do sự tăng giá vé máy bay và nơi ăn chốn ở.


Nguyễn Mạnh Cường



Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là một bộ phận của Y Khoa Tri Liệu Viễn Liên (Telemedicine) - YKTLVL. Khoa học nầy sữ dụng thông tin y học trao đổi giửa hai địa bàn thông qua những phương tiện truyền thông điện tữ liên quan đến sức khỏe và giáo dục bệnh nhân hay cơ quan cung ứng dịch vụ y tế và nhằm cải thiện công tác chăm sóc bệnh nhân. Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên bao gồm các dịch vụ tư vấn, chẩn đoán, và trị liệu. TLTLVL đã được thực hiện trên 40 năm nay và sữ dụng kỹ thuật Hội thoại viễn liên (Videoconferencing) để cung ứng dịch vụ tư vấn cho bệnh nhân mắc bệnh tâm lý.

Mục Lục
Tổng Quát
Kỹ Thuật (Technolgy)
Màn Hình (Monitor)
Máy Thu Hình (Camera)
Bộ Phận Mật Mã (CODEC)
Dải Tần (Bandwidth)
Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)
Những Yếu Tố thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)
Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)
Phúc Lợi (Benefits)
Vấn Đề (Issues)
Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)

Tổng Quát

Các hệ thống TLTLVL do Wittson thiết lập vào đầu thập niên 1950 tạI TâmLý Học Viện Nebraska (NPI). Trong tài liệu nhan đề “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatry Care”, Mark Moran cho biết, “Hầu hết các bác sỹ tâm lý đều đồng ý rằng nếu điều kiện cho phép thì việc chẩn đoán và trị liệu trực diện vẫn tốt hơn hết. Tuy nhiên họ nói rằng TLTLVL là một phỏng đoán đủ chính xác để mọi người chấp nhận ngay khi phương pháp trị liệu thường thiếu những dịch vụ về tâm lý.” Mặc dù vẫn còn những vấn đề liên quan đến phương thức thực hiện, phẩm chất và một số những trở ngạI hiện có trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL, kỹ thuật nầy đang càng ngày càng được chấp nhận hơn đới với các bác sỹ tâm lý, các công ty cung ứng dịch vụ y tế và những bệnh nhân ở những vùng quê cũng như quân đội.

Vậy thì Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên (YKTLVL) và Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là gì?

YKTLVL, trong đó có TLTLVL, thường ám chỉ bất kỳ dạng kỹ thuật nào có thể giúp chửa trị y khoa từ hai vị trí địa lý khác nhau - Điện thoại, Fax, lưu trử hồ sơ điện tữ (electronic record keeping), email, Internet để phổ biến tài liệu hướng dẩn cho bệnh nhân. Nhưng kỹ thuật có tiềm năng xa tầm và thích ứng cao nhất là Hội Thoại Viễn Liên (Videconferencing), giúp bác sỹ và bệnh nhân nhìn thấy nhau và đối thoại vớI nhau từ những địa bàn xa qua một máy thu hình và một màn ảnh truyền hình. Và ngày nay, TLTLVL - sữ dụng kỹ thuật để trị liệu và giáo dục tâm lý từ những vị trí địa lý xa nhau – có thể biến thành sự thật những gì trước dây được coi là ngông cuồng.

Trên đay hai từ YKTLVL và TLTLVL đả dưọc định nghĩa rõ ràng và kỹ thuật thông thường nhất dùng cho TLTLVL là Hội thoại viễn liên (Videconferencing) - HTVL. HTVL đã được sữ dụng và thử nghiệm trong một số hệ thống YKTLVL và các nhà chuyên viên nghĩ rằng “TLTLVL hứa hẹn sẽ bành trướng dịch dụ điều trị tâm lý, đặc biệt trong những vùng xưa nay vốn thiếu những dịch vụ nầy.” Và một số nghĩ rằng “đó là trào lưu của tương lai” (Rodrigo Muñoz, M.D, Chủ tịch Hiệp Hội Tâm Lý Hoa Kỳ). YKTLVL tạo điều kiện phỏng vấn bệnh nhân ở cách xa hàng dặm. Đó là một một ứng phó trước tình trạng phân phối không y sỹ đồng đều, và là cơ hội để thăm dò giới hạn hiệu năng của khoa học kỹ thuật.

Kỹ Thuật (Technology)

Các Bác sỹ Tâm lý nhờ vào kỹ thuật HTVL để phỏng vấn, cố vấn và chẩn đoán bệnh nhân. Hình 1 tượng trưng một biểu đồ của những hệ thống HTVL điển hình dùng cho YKTLVL trong một tài liệu nghiên cứu gần đây về HTVL. Biểu đồ minh họa những thành tố chính của các hệ thống YKTLVL/TLTLVL, gồm có màn hình, máy thu hình, bộ phận mật mã, máy vi tính, vi âm, và loa phóng thanh.

Màn Hình (Monitor)

Màn hình chiếu lên hình ảnh hoạt trường và những ngườI liên hệ ở đầu bên kia. Các phòng có thể chia thành nhiêu đơn vị và chiều dài mỗI đơn vị tốI thiểu là 33 feet. Một màn hình vi tính 17 inch là thích hợp nhất cho những cuộc phỏng vấn thường lệ.

Máy Thu Hình (Camera)

Máy thu hình dùng để thu những hình ảnh tạI hoạt trường và gởI hình qua đầu bên kia. Chất lượng của lăng kính rất quan trọng và những lăng kính có hoành độ rộng (wide-angle lens) rất hữu ích khi hoạt trường có từ hai ngườI trở lên.

Bộ Phận Mật Mã (CODEC)

Bộ phận nầy là đầu nảo của hệ thống HTVL, giúp chuyển những tín hiệu định hình (analog signals) mà máy thu hình nhận được sang tín hiệu định số (digital signals) và thu nén chúng lại (compress) trước khi truyền tải sang bên kia. Ở đầu bên kia, một bộ phận tương tự chuyển những tín hiệu ngược trở lại dạng định số để có thể xem được trên màn hình.

Dải Tần (Bandwidth)

Từ nầy ám chỉ số lượng dữ kiện (data) có thể truyền tải trong một thời gian cố định. Những Hệ Thống Định Số Hệ Phân Toàn Vụ (ISDN – Integrated Services Digital Networks) được sữ dụng để tránh dị dạng về hình ảnh và âm thanh (image and voice distortion).

Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)

Với những trang thiết bị và nhu liệu điện toán, máy vi tính được dùng để cung ứng những lập trình đối tác (interactive applications) và HTVL.

Trang thiết bị dành cho YKTLVL khác biệt rất nhiều về giá cả, từ vài trăm Dollar để sữ dụng Internet cho đến trên $60,000 cho những hệ thống thượng thặng dùng cho cả phòng. Cái khó khăn khi phỏng định giá cả cho TLTLVL càng trở nên phức tạp hơn vì tính chất năng động của kỹ thuật HTVL.

Khi so sánh phương pháp phỏng vấn trực diện cỗ truyền vớI phương pháp phỏng vấn TLTLVL theo những điều kiện và chẩn đoán khác nhau, các nhà nghiên cứu theo dõi quá trình thử nghiệm những hệ thống TLTLVL cho biết, “Sự gián cách giửa bác sỹ điều trị và bệnh nhân gần như không có ảnh hưởng gì trong những lần trị bệnh.” Từ cuộc thử nghiệm áp dụng những hệ thống TLTLVL đầu tiên, các nhà nghiên cứu “nhận thấy các bệnh nhân và thân quyến của họ tiếp thu rất tốt đối với hình thức truyền thông nầy.”

Những Yếu Tố Thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)

Căn cứ trên những tài liệu phê bình về những hệ thống TLTLVL, năm yếu tố thành công then chốt được mô tả như sau:

1. 1. Thóa đáng (Satisfactory): Những hệ thống TLTLVL phải được thực hiện với những một thiết bị đối tác thân thiện (friendly user interface) và cung ứng những dịch vụ gíup bác sỹ cảm thấy thoảI mái khi sữ dụng.
2. 2. Dễ truy cập (Accessibility): Những hệ thống TLTLVL phảI dễ truy cập trong những vùng nông thôn hay hẻo lánh vớI dảI tần hạn chế.
3. 3. Chất Lượng (Quality): Hình ảnh tốt và không bị trục trặc trong khi phỏng vấn hay tham vấn.
4. 4. An Toàn (Security): Bảo mật dữ kiện, hình ảnh và thông tin của bệnh nhân.

Những yếu tố thành công then chốt nầy sẽ giúp những người quản lý công trình tạo được một kế hoạch công trình tốt, tránh thất bại khi thực hành và triển khai hệ thống TLTLVL. Thực vậy, mọi công tác HTVL muốn thành công cần phải có khả năng làm cho bệnh nhân vui thích với những dịch vụ của mình. Phẩm chất của dự án gồm có: hình ảnh phải tốt, âm thanh rõ, và hệ thống dễ sữ dụng và điều khiển. Nếu những hệ thống HTVL được liên kết với các hệ thống y tế khác và được sữ dụng như nhữn phương tiện trị liệu thì nó cần được đảm bảo sẽ bảo mật những riêng tư của bệnh nhân. Hiệu năng cũng là một yếu tố then chốt khác của các hệ thống HTVL vì hầu hết những Trưởng Phòng Điều Hành (CEO) và Tổng Quản Đốc đều muốn hệ thống phảI hoạt động liên tục trong thời gian hội thoại.

Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)

Đa số các hệ thống TLTLVL đều có một cơ cấu truyền thông hạ tầng hổ trợ kỹ thuật truyền tin nội bộ giửa các máy vi tính (TCP/IP) và trên mạng. Các bác sỹ tâm lý sẻ phỏng vấn bệnh nhân bằng phương pháp trực diện cỗ truyền hay sữ dụng kỹ thuật trên mạng theo ngôn ngữ lập trình .NET, Định trường 3.5 (Framework 3.5), hay Java theo lối hỏi/đáp. Họ có thể thực hiện những báo cáo thẩm định và đề nghị phương án điều trị căn cứ trên những báso cáo nầy. Với đà phát triển mạnh và nhanh của kỹ thuật HTVL, các bác sỹ tâm lý có thể đủ khả năng để tiến hành phỏng vấn bệnh nhân và theo dõi việc điều trị bằng điện thoại di động hay những hệ thống truyền hình có độ rõ cao (HD systems).

Các tiêu chuẩn sữ dụng những hệ thống HTVL được định nghĩa bỡi Ủy Hội Viễn Thông Quốc Tế (ITU) tại Thụy Sỹ. Dưới đây là một số những tiêu chuẩn được các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ sữ dụng:

• • H.320 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại viễn liên có dải tần hẹp (narrow bandwidth) sữ dụng mạch điện xoay chiều như N-ISDN, SW56, các hệ thống đặc dụng (dedicated networks)
• • H.321 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
• • H.323 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật không đảm bào chất lượng (LAN – Local Area Network, Internet, v.v.)
• • H.324 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rất hẹp sữ dụng hệ thống điện thoại thường
• • H.310 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rộng và sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)

Phúc Lợi (Benefits)

Khi sữ dụng những hệ thống TLTLVL, bệnh nhân có thể tiết kiệm được thì giờ và tiền bạc vì có thể khám bệnh mà không cần phải đi đến phòng mạch bác sỹ. Sau đây là những thí dụ điển hình về việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania:

“Việc sữ dụng YKTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania giúp giảm thiểu số lượng vận chuyển bệnh nhân bằng máy bay tới Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield. Số lượng bác sỹ TLTLVL tại FMC-Lexington cùng với nghiệp vụ chuyên môn của họ được xem như đã giúp điều trị và theo dõi những bệnh nhân tâm thần hiệu quả hơn. Đối với những bệnh nhân được ổn định và được theo dõi như thế, những khủng hoảng đã tránh được. Khi tâm lý những tù nhân trở nên xáo trộn họ tìm đến ngay các bác sỹ TLTLVL để những người nầy có thể tìm cách nói để xoa dịu họ xuống, nhờ đó chuyển hướng được một cơn khủng hoảng cấp tính và không phải chuyển bệnh nhân đến trại tâm thần tại Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield.”

Ngoài vấn đề tiết kiệm tiền bạc và thì giờ, những hệ thống TLTLVL có thể dùng để huấn luyện y tá và viên chức cải huấn biết cách đối phó với hành vi quá khích của các tù nhân bị bệnh tâm thần trong khi giám sát những hoạt động hằng ngày của họ hầu ngăn ngừa bạo động.

Vấn Đề (Issues)

Vẫn có những vấn đề kỹ thuật trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL. Trước nhất, một số bác sỹ vẫn không muốn ssũ dụng chúng vì họ chưa cảm thấy tụ tin khi ssữ dụng kỹ thuật nầy và một số hệ thống và lập trình hãy còn chưa hoàn toàn dễ sữ dụng, khó khai triển và thực hành. Thứ hai, nếu sữ dụng một hệ thống với dải tần hẹp thì có thể sẽ bị châm trể trong khi phỏng vấn hay tham vấn. Một số hệ thống sữ dụng truyền hình với độ rõ cao (HDTV) sẽ cung ứng hình ảnh chất lượng cao và âm thanh rõ và không bị chậm trể hay trục trặc nếu hoạt động trong hệ nội bộ (LAN/WAN). Tuy nhiên, tốn phí hãy còn rất cao ($20,000 - $60,000 mỗi hệ thống). Kỹ thuật nầy còn đòi hỏi tốn phí để huấn luyện nhân viên vi tính để yểm trợ, bảo trì, và liên kết hệ thống TLTLVL với cơ cấu tin học hạ tầng (iT infrastructure).

Mặc dù những hệ thống TLTLVL còn một số vấn đề kỹ thuật, việc sữ dụng chúng sẽ tiếp tục phát triển trong 10 năm tới. Với giá xang dầu tăng cao, bệnh nhân sẽ thích sữ dụng các hệ thống TLTLVL hơn là đi đến các phòng mạch bác sỹ. Kỹ thuật cũng cho phép bệnh nhân chọn ngày giờ hẹn với bác sỹ tâm lý và họ cũng có thể xem được kết quả thử máu hay các kết quả thử nghiệm khác qua những lập trình vi tính trên mạng. Các bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng có thể sữ dụng những hệ thống nầy để cung ứng dịch vụ tốt hơn cho bệnh nhân của mình và huấn luyện những đồng nghiệp trong cùng ngành. Với công tác chỉ đạo hiệu quả trong qủan trị y tế, bệnh viện, những định chế nghiên cứu, những nhà lập pháp, cơ quan liên bang và tiểu ban, các hệ thống TLTLVL sẽ gia tăng trong các bệnh viện, quận hạt, tiểu bang, quốc gia và ngay cả tại tư gia của chúng ta. Chiều hướng đó sẽ gia tăng truy cập cho các bệnh nhân, thành viên, chuyên gia, bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng.

Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)

Theo một tài liệu của Hiệp Hội Viễn Thông Quốc Tế (Comité Consultatif international Télégraphique et Téléphonique), tiêu chuẩn kỹ thuật H323 được mô tả là một trong những thành tố trọng yếu trong công trình triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng (voice-over iP services). “Tiêu chuẩn H323 được coi là trọng yếu trong việc hổ trợ triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng, và nhận được sữ yểm trợ rộng rãi của các công ty sản xuất thiết bị nhờ vào khả năng đa hệ (interoperability) của nó. Người ta ước tính những hệ thống sữ dụng tiêu chuẩn H323 truyền tải được hàng tỷ phút âm thanh mỗi tháng. H323 cũng được sữ sụng trong các hệ thống HTVL.”

Bên cạnh là cấu trúc của một hệ thống HTVL điển hình dùng cho các hệ thống TLTLVL sữ dụng H323 với nhiều điểm kiểm định (Multiple Control Points).



Hệ thống HTVL hổ trợ điện thoại di động, máy vi tính cá nhân, máy truyền hình độ rõ cao, và những lập trình trên mạng. Bệnh nhân, công ty cung ứng dịch vụ y tế, nhân viên cải huấn có thể vào hệ thống bằng điện thoại di động, hay máy vi tính cá nhân co gắn Webcam (máy thu hình trên máy vi tính) có dịch vụ Internet hay máy truyền hình sữ dụng hệ thống ISDN để tham vấn với bác sỹ tâm lý mà không cần phải mang bệnh nhân tới phòng mạch. Hệ thống sẽ giúp tiết kiệm thì giờ và tiền bạc cho gia đình và cơ quan chính phủ. Bệnh nhân vẫn có thể hưởng được những dịch vụ thích hợp vớI thờI gian chờ đợI ngắn hơn. Ngoài ra, bệnh nhân vẫn có thể hưởng được sự hổ trợ và tham vấn từ bác sỹ ngay cả khi sinh sống trong những miền quê hay nơi hèo lánh hoặc đang đi du lịch bằng cách gởi thông điệp bằng chử trên điện thoại di động.




Bản TiếngAnh

Telemedicine is the use of medical information exchanged from one site to another via electronic communications for the health and education of the patient or healthcare provider and for the purpose of improving patient care. Telemedicine includes consultative, diagnostic, and treatment services. Telepsychiatry has been implemented for over 40 years and uses videoconferencing technology to provide consulting services for patients with mental illness.
Contents

Introduction
Technology
Monitor
Camera
CODEC
Bandwidth
Personal Computer
Critical Success Factors
Infrastructure and Framework
Benefits
Issues
Future Applications
See Also
References


Introduction
The first Telepsychiatry systems were implemented by Wittson in the early 1950s at the Nebraska Psychiatric Institute (NPI). According to “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care “, Mark Moran states, “Most psychiatrists agree that when possible, face-to-face assessment and treatment are optimal. However, they say that Telepsychiatry is a close-enough approximation to make it more than acceptable when the alternative is no access to psychiatric services. “[1] Even though there are still issues related to implementation, quality and some existing barriers for using Telepsychiatry systems, the technology is becoming more and more adopted by psychiatrists, healthcare providers and patients living in rural areas as well as the military.
Then what are Telemedicine and Telepsychiatry? “Telemedicine, of which Telepsychiatry is a specialty, refers generally to the use of any kind of technology to facilitate the practice of medicine across distances—phone, fax, electronic record keeping, e-mail therapies, and use of the Internet to post educational material for patients. But the model that has the most far-reaching and transformative potential is the use of videoteleconferencing (VTC), allowing physicians and patients to see and talk to each other in remote sites using a video camera and television screen.“ [1]And today "Telepsychiatry"—the use of technology to facilitate psychiatric treatment and education across distances—could turn what once seemed like a whimsical fantasy into reality.” [1]
In the previous paragraph, Telemedicine and “Telepsychiatry” have been clearly defined and the most common technology was used for Telepsychiatry is Video Teleconferencing (VTC). The VTC technology had been used and tested in some Telemedicine systems and the experts think “it promises to expand access to psychiatric care, especially in traditionally underserved areas and practice settings” and some think it is the wave of the future," said former APA president Rodrigo Muñoz, M.D. "Telemedicine makes it possible to interview someone who is miles away from you. It is a response to the maldistribution of physicians and psychiatrists, and it is an opportunity to explore the limits of the power of technology."

Technology

Psychiatrists rely heavily on video conferencing technology to interview/consult and examine patient. Figure 1 shows a diagram of typical Telemedicine video conferencing systems in a recent study of a video conferencing project [7]. The diagram illustrates the major components of any Telemedicine/Telepsychiatry systems that are including monitors, cameras, CODEC, a desktop computer, microphones, and speakers.





Monitor
The monitor shows a picture of a local site and the image of the people at the distant site. Rooms can be divided into many units and each unit is 33’’ or larger. A 17’’ desktop monitor is preferred for routine interview.

Camera
The camera is used to capture the image at the local site and send it to the other site. The quality of the lens is very important and wide-angle lens is useful if more than one or two people to be viewed.

CODEC
“The CODEC (coder-decoder) is the heart of the teleconferencing device. It transforms the analog signal(the picture) picked up by a video camera to a digital signal and compresses it for transmission to the distant site; there, another CODEC transforms the digital back to an analog one for viewing the video monitor.”

Bandwidth
The bandwidth refers to the amount data that can be transmitted in a fixed amount of time. Digital ISDN (128Kbps) lines are used to avoid image and voice distortion.

Personal Computer
A desktop computer can be used with hardware and software packages to provide interactive applications and videoconferencing.

“Telemedicine equipment varies widely in cost, from a few hundred dollars for Internet access to $60,000 plus to top range room systems. The difficulty in quoting costs for Telepsychiatry is further complicated by the dynamic nature of the video conferencing technology”. [7]

By comparing the traditional face-to-face interview with the Telepsychiatry interview using the video conferencing technology across the various diagnoses and conditions, the researchers involved in the trial of the implementation of the Telepsychiatry systems said, “The isolation of the therapist from the patients had almost no effect on group sessions”. From the trial of the first implementation of Telepsychiatry systems, researchers “found patients and relatives were very receptive to this form of communication.”

Critical Success Factors
Based on literature review on the existing Telepsychiatry systems, five critical successful factors have been identified as follow:
1) Satisfactory : the Telepsychiatry systems has to be implemented with a friendly user interface and provide the services that makes the psychiatrist feel comfortable with using them
2) Accessibility : Telepsychiatry systems has to be easily access in the rural, isolated areas with limited bandwidth
3) Quality : Good image and no down time during the interview/consultation
4) Security : protect patient’s data/image and information

These Critical Success Factors will help the project managers create a good project plan, avoid failure for their future implementing and deploying Telepsychiatry systems.

Indeed, every successful videoconferencing needs to be able to make users happy with its services. The Quality of the projects like good images, sound needs to be clear and the systems are easy to be used and operate are key factors for successful. If the conferencing systems are integrated with other health care systems and are used as tools to treat patients, it needs to be secured to protect privacy of patients. Performance is also another key factor for conferencing systems because most CEOs and senior management will expect systems up and running without any interruption during their meetings or conferences.

Infrastructure and Framework

Most of the latest Telepsychiatry systems will have a telecommunication infrastructure supporting TCP/IP protocol and internet technology. The psychiatrists will interview their potential clients by traditional way like face to face interview or using web-based application using .Net framework (3.5) or Java technology to click and choose the answer. They can make assessment reports and suggesting treatment plan based on those assessment reports. With the growing strong and fast of video conferencing technology, psychiatrists might be able to conduct interview with their patients and follow up their treatment using cell phone/HD systems.

The standard of using video conferencing systems is defined by International Telecom Union (ITU) based in Geneva, Switzerland. Here are some of the standards used by the manufactures and service providers:

• H.320 is a standard for Narrow-band videoconferencing over circuit-switched networks(N-ISDN, SW56, dedicated networks)
• H.321 is a standard for Narrow-band videoconferencing over ATM and B-ISDN
• H.323 is a standard for Narrow-band videoconferencing over non-guaranteed quality-of-service packet networks (LAN, Internet, etc.)
• H.324 is a standard for Very narrow-band videoconferencing over the general (dial-up) telephone network

Benefits

By using Telepsychiatry systems, we can save time and money by allowing patients getting consulting office without going to the doctor’s office. Here is one of the good examples of using Telepsychiatry systems for three Pennsylvania prisons:
“The use of Telemedicine systems for three Pennsylvania prisons helps to reduce number of emergency airlift to Federal Medical Center at Springfield. The availability of psychiatrists at FMC-Lexington, via Telemedicine, and their expertise were thought to result in more effective medication and monitoring of prisoners suffering from psychiatric illnesses. With prisoners, thus stabilized and monitored, crises were avoided. When prisoners became agitated, they had quick access to the remote psychiatrist, who was able to "talk them down," thereby sidetracking a downward spiral and averting a transfer to the psychiatric ward at Federal Medical Center at Springfield.”[6]

Besides saving time and cost, Telepsychiatry systems can be used to train nurses and correctional officers to deal with extreme behavior of mental prisoners while monitoring their daily activities to prevent violence. In this way, Telepsychiatry systems will help save money and time while providing users with a better quality of health care services.
Issues

There are still technical issues with the use of Telepsychiatry systems. First, some doctors still not want to use them because they still not feel comfortable with using technology and some systems and applications are still not quite easy to use, hard to deploy and implementation. Second, if the systems using a system with a low bandwidth, it will cause some delay during the interview or consultation. Some systems using High Definition TV will provide a very high image quality and clear sound with no delay and down time if it is running on the LAN or WAN with the high bandwidth. However, the cost is still high ($20,000-$60,000 per system). It also requires additional cost for training IT personnel for supporting, maintaining, and integrating Telepsychiatry systems with the existing IT infrastructure.

Although Telepsychiatry systems still have some technical issues, their use will continue to grow in the next 10 years. With the rise of oil prices, patients will prefer to get consultation services through the use of video conferencing technology instead of going to the doctor’s office. This will also allow patients to schedule their appointments with psychiatrists and they can also see their blood/medical test results through web based applications. Doctors and psychiatrists can use these systems to provide better services for their patients and help them educate fellow healthcare professionals. With the strong leadership of healthcare administration, hospitals, research institutions, law makers, local and federal agencies, their will be an increase of Telepsychiatry systems implementation in hospitals, counties, states, countries and even our home. This will allow greater access for patients, members, professional personals, doctors and psychiatrists.
Future Applications


According to a paper published by CCITT name “CCITT-50 years of excellent - 1956-2006”, H.323 family as describe as one of the crucial components for developing voice over IP services as follow “The H.323 family of standards has been crucial in fostering the development of new voice-over IP services, winning widespread support from equipment vendors because of the interoperability that it enables. It is estimated that systems using H.323 carry billions of voice minutes each month. H.323 is also widely used in videoconferencing systems.”[8]

Here is the system architecture for a typical video conferencing system for Telepsychiatry systems using Multiple Control Points and using H.323 family of standard in the figure 2 below.




Figure 2: System architecture of a video conferencing system

In the above system, we can see that the videoconferencing supporting mobile phone, PC, HD TV and the web-based applications can run on the desktop computer, mobile phones. Patients/provider/correctional officers can connect to the systems using cell phone (3G network) or computer with web cam using IP network or TV using ISDN network to request consultation from a psychiatrist without bringing mental patients to his/her office. It will help to save money and time for family and government agency and patients can get the appropriate service with less waiting time. Also, patients can still get support and consultation from the psychiatrist even when they live in rural/isolated areas or are traveling via text messaging.

See also

Telemedicine - http://en.wikipedia.org/wiki/Telemedicine
Psychiatry - http://en.wikipedia.org/wiki/Psychiatry


References

[1]. Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care http://pn.psychiatryonline.org/cgi/content/full/39/6/14. .Retrieved on 06/10/08
[2]. ISDN. ISDN Protocols - LAPD | ISDN. Retrieved June 24th, 2008, from http://www.protocols.com/pbook/isdn.htm
[3]. Lawlor, T. LCD projectors, Audio/Video equipment and computers from M Communications. Video Conferencing Gaining Popularity. Retrieved on 06/10/08 from http://www.mcommunications.com/tips/vidConfLaw/.
[4]. Tandberg. Key Considerations for Maximizing - Your Video Architecture: Moving Beyond Point-to-Point Conferencing. July 2005. 13 p.
[5]. Tandberg. Video Conferencing Standards 2.2. D10740. 12 p.
[6]. Telemedicine Averted Costly Transfers to Federal Medical Centers. Retrieved June 16th, 2008, from http://www.ncjrs.gov/Telemedicine/c2c.html.
[7].LeRouge, C.& Garfield, M.J, and Hevner, A.R,”Quality Attributes in Telemedicine Video Conferencing”, Proceedings of the 35th Hawaii International Conference on System Sciences, 2002.
[8]. CCITT-50 years of excellent -1956-2006. Retrieved on 06/16/08 from www.itu.int/ITU-T/50/docs/ITU-T_50.pdf.