Chỉ mới đôi năm trước đây thôi, mạ tôi vẫn còn khỏe và năng động lắm. Tuy đã lớn tuổi, nhưng bà vẫn tự nấu lấy thức ăn cho mình. Anh em tôi e ngại sợ mạ tay yếu đổ nước phỏng tay, hay sợ bà quên tắt bếp, lửa củi nguy hiểm…nhưng mà nói mấy cũng vô ích. Mạ viện lý do thức ăn tụi tôi nấu không hợp khẩu vị, và nhất là bà cần làm việc để qua thì giờ và cũng để vận động chân tay luôn thể. Thấy bà nói có lý nên tụi tôi cũng đành chiều ý. Thôi kệ, tới đâu hay tới đó. Vậy đó mà mạ tôi đã nấu ăn một cách ngon lành. Chẳng những bà nấu cho bà, mà cả lũ con cháu nội ngoại còn được hưởng lây nữa.
Hình như ít có lần nào sau khi đã gởi cháu cho Bà trông, đến đón về mà tôi không được mạ bới cho một chút đồ ăn mang theo. Và món mà bà thường làm cho tôi nhiều nhứt là món canh thơm. Bà biết đây là món mà tôi rất thích.
Kể cũng lạ. Những lần mang tô canh thơm về là tôi hầu như một mình làm trọn. Hai đứa con không ăn đã đành, mà cả H cũng chỉ sơ sơ vài muổng góp vui vậy thôi, còn lại là tôi quét sạch không chừa một cọng hành. Tôi xì- xà xì- xụp ăn tô canh như ngày mai sẽ tận thế không bằng.
Thấy tôi thích món này như vậy, nên khoảng hai ba tuần mà không thấy tôi mang từ bà nội về là vợ tôi lục đục nấu. Tưỏng cũng nói thêm bà xã tôi có biệt tài học nấu ăn. Nàng vô nhà hàng hoặc đi ăn ở đâu mà gặp món đắc ý, chỉ cần khươi đĩa đồ ăn coi sơ sơ là có thể về nhà nấu giống y chang. Cho nên với tô canh thơm đơn giản này là quá dễ dàng. Hôm tôi thấy tô canh thơm dọn lên bàn, ngạc nhiên quá tưởng là mạ tôi nấu nhờ người khác mang qua. Nhưng H nói nàng mới nấu theo kiểu của Bà nội. Tôi thích vô cùng, ngồi xuống chén thả giàn. Ăn xong vợ hỏi “ ngon không?” “Ngon chứ”. Vợ hỏi tiếp “ Có ngon như bà nội nấu không” Tôi thành thực trả lời “ Ngon, nhưng mà hình như hơi khác với cách Bà nội nấu” Vợ tôi nói mới nấu lần đầu nên chưa chỉnh. Lần sau chắc chắn sẽ giống.
Lần sau nữa, tô canh thơm của vợ tôi nấu thành thật mà nói thì chẳng những giống mà có lẽ còn đậm đà và thơm ngon hơn tô canh của mạ tôi. Tôi ăn cũng ngon lành lắm. Thế nhưng, dù vợ tôi có nấu cách nào đi nữa cũng không thể nào giống như tô canh của mạ. Canh thơm của vợ nấu thì tôi ăn bình thường cùng những món ăn khác. Nhưng khi ăn tô canh của mạ tôi nấu, đặc biệt trọn một bữa cơm tôi chỉ ăn một món này mà thôi như là sợ mấy món kia sẽ làm tô canh của tôi bớt ngon. Tôi vừa ăn mà sợ như nó sẽ…hết. Và khi nó hết, tôi vét đến cọng ngò cuối cùng. Ăn xong mà vẫn thòm thèm thật tức cười. Cả hai đứa tôi cùng nhận thấy điều này. Lạ!
Cho đến một hôm…
Cũng nhân dịp lễ Thanks Giving, lớp học con gái tôi tổ chức một buổi pot-luck ăn trưa. Mỗi phụ huynh tham dự mang một món ăn tới góp vốn ăn chung. Tôi mua mang theo món mì xào từ một tiệm mì nổi tiếng và tôi biết rất ngon. Tới giờ ăn, các phụ huynh phải phục vụ cho các em ăn trước. Món mì của tôi được tất cả ủng hộ nhiệt liệt trừ một cậu bé có vẻ là người Tàu hay Phi gì đó. Khi tôi mang đĩa mì tới, nó thờ ơ lạnh nhạt nói “Không ăn” Hừm, làm bộ dữ. Chắc là nó không đói. Nhưng tôi vẫn cố dụ “Ăn đi cháu, mì ngon lắm” Cậu vẫn một mực: “Không ăn. Mì má cháu làm ngon hơn nhiều” A, thằng này làm phách nhỉ, dám nói là mì má nó làm ngon hơn ở tiệm, mặc dù là chưa thử qua sợi nào. Đúng lúc đó mẹ của cậu cũng vừa tới bàn. Bà giở nắp hộp đồ ăn của cậu ra thì quả nhiên là…một hộp mì xào. Tôi tò mò nhấn nhá đứng gần hai mẹ con để coi món mì gì đặc biệt mà cậu con quảng cáo dữ dội quá. Khi tôi nhìn thấy tô mì rồi thì thật là…thất vọng đến nảo nề. Trơì ơi, tưởng là có gì ghê gớm lắm, té ra là những cọng mì trắng nhách, nhạt nhẽo, thêm chút trứng chiên thái mỏng rãi ở trên, và chan xì dầu. Chỉ vậy thôi mà cậu làm như là sơn hào hải vị đâu đâu không bằng. Tôi bị chạm tự ái quá đi. Nó dám chê mì mua ở nhà hàng của tôi để ăn cái tô mì trông thiệt là …dỡ ẹt này. Cho nên tôi vẫn tiếp tục nhấn nhá đứng gần để coi thử.
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy cậu bé mắt sáng rở khi mì của cậu được mẹ xúc ra chén. Kỳ thật. Đĩa mì tôi mang tới sợi vàng óng ánh hấp dẫn, lại thêm tôm, xá xíu, rau cải đầy đủ, ngon lành thì cậu không thèm ngó tới, trong khi mì của mẹ cậu thì lưa thưa vài miếng trứng với xì dầu mà cậu làm như bắt được vàng. Chưa hết, nhìn cái dáng điệu cậu ăn mới đã. Cậu ngồi sát vào mẹ như một con gà con. Tay trái cậu cầm muổng, tay phải đôi đủa, cả hai tay phối hợp nhịp nhàng. Trước hết cậu gom mì thành một cụm nhỏ vừa đủ một miếng, dồn thêm vài sợi trứng, xong rồi cả muổng lẫn đủa khiêng cụm mì lên ngoạm một miếng vô miệng gọn lỏn. Nói thì lâu chứ cậu ta làm lẹ lắm. Cụm mì mới vào miệng đang nhai là đôi tay đã thực hiện lại động tác gom mì lại như cũ của một chu kỳ nhứt định. Cứ thế cậu không để phí một giây nào. Ngay cả một vài cọng mì dính bên mép cậu cũng không thèm chùi. Chỉ thỉnh thoảng cậu phải ngưng lại chút để thở, và để cho mẹ chùi mép dùm, trong khi cậu nhìn mẹ cười…say đắm. Ôi trên đời này sao lại có thằng con nào sung sướng, hạnh phúc đến như vậy cà? Cậu lại tiếp tục ăn, thì thà thì thụp. Thấy nó ăn mì mà tôi cảm thấy đói bụng và thèm quá đi, thiếu điều muốn nói với nó rằng “ Mày cho tao thử một miếng , được không?”
Chẳng mấy chốc mà tô mì gần hết, cậu ăn chậm lại. Nhưng cậu ăn chậm không phải vì no. Cứ nhìn cái miệng nhỏ nhắn nhai ngấu nghiến thì biết. Cậu sợ hết. Như thể cậu muốn ăn hoài ăn hủy miễn là có mẹ ngồi bên cạnh.
Rồi thì tô mì xào của cậu cũng phải hết. Tôi thấy nó nhai miếng cuối cùng thật lâu, và khi đã bỏ đũa xuống rồi cũng còn dùng tay vét mấy cọng hành nhét vào miệng một cách tự nhiên. Bà mẹ ngồi bên cạnh không cản mà chỉ nhìn tôi cười bẻn lẻn để tôi thông cảm cho thằng con háu ăn.
Tôi thẩn thờ nhìn hai mẹ con và chợt hiểu.
Hành động vét mấy cọng hành cuối cùng của cậu bé sau khi đã làm sạch sẽ tô mì làm tôi nhớ những lúc tôi vét mấy cọng ngò cuối cùng của tô canh thơm do mạ tôi nấu. Tôi nhớ lại hồi nãy thằng con ăn mì say sưa và thỉnh thoảng nó nhìn mẹ nó một cách trìu mến như thể nếu được nó cũng ăn luôn mẹ nó vào bụng. Và tôi nhớ lại lúc ăn canh thơm của mạ, tôi có một cảm giác man mác, êm đềm mà không hiểu vì đâu. Tô mì của cậu bé chắc chắn là không bằng mì tôi mua ở tiệm, cũng như canh thơm của mạ tôi chắc cũng không đậm đà, ngon ngọt như vợ nấu. Nhưng mà cả hai đã được nêm vào một gia vị trân quí nhất trên đời: Gia vị MẸ.
Khi ăn canh của mạ nấu, thì ra tôi đã nuốt vào người tất cả tình thương của mạ gởi gắm trong tô canh. Tôi đã vào cái tuổi mà người ta gọi là tri thiên mệnh. Trên đầu tóc muối như tiêu. Nhưng với mạ thì tôi bao giờ cũng chỉ là một thằng con nhỏ dại mà bà khi nào cũng muốn chiều chuộng chăm sóc. Tôi chợt nhận ra rằng mỗi tô canh của mạ không những đã được nêm đầy gia vị MẸ trong đó, mà nó còn chan chứa cả một quảng đời niên thiếu của tôi. Tôi đã ăn canh như một con bò già ngấu nghiến nhai lại quảng tuổi ấu thơ mà nuối tiếc những chuổi ngày vẫn còn trong vòng tay của mạ.
****
Nhưng mà gần đây mạ tôi đã không nấu nướng gì được nũa. Mạ yếu như một ngọn đèn dầu gần cạn, hiu hắt chờ một cơn gío lớn.
Bây giờ, ngoại trừ những lúc cần phải đi đứng chút đỉnh làm vệ sinh hay uống thuốc, còn thì mạ chỉ nằm trên giường. Trời nắng ấm muà Xuân, mạ đắp mền từ cổ tới chân mà vẫn than lạnh. Những chuyện hôm qua thì mạ quên tuốt, nhưng mà chuyện năm sáu chục năm trước thì mạ tôi nhớ rõ mồn một và cứ nhắc tới nhắc lui dăm ba câu chuyện đó. Mạ kể đi kể lại chuyện thời bà còn con gái mười ba mười bốn tuổi đã tự lập mưu sinh với giỏ hàng Xén nhỏ nhoi bày bán ở chợ ĐÔNG BA ngoài Huế. Có ông Cố Đạo người Pháp dạy học ở đâu đó không biết, mỗi vài tháng lại ra chợ sắm giấy, bút, mực… chỉ ở gánh hàng nhỏ xíu cuả mạ, chứ không bao giờ mua ở những cửa tiệm lớn hơn. Lý do vì mạ tôi là người duy nhất trong khu chợ biết nói bặp bẹ dăm câu tiếng Pháp với ông. Anh em tôi ngạc nhiên hỏi mạ học tiếng Pháp ở trưòng nào? Bà nói trường nào mà trường. Nhà nghèo cơm ngày ba bửa đủ ăn là may rồi, con gái thời đó như mạ làm sao được tới trường. Mạ chỉ học lóm tiếng Pháp từ mấy cậu trong nhà mà thôi. Tụi tôi nể mạ quá xá.
Mạ ngày càng lãng hơn. Một lần tôi ngồi bên, mạ lại bắt đầu kể một chuyện đời xửa đời xưa nào đó của bà mà tôi đã nghe ít nhất một chục lần và đã thuộc lòng. Không hiểu sao bữa đó tôi vô tình quá. Mạ mới nói vài câu là tôi ngắt lời bà, nói là mình đã biết rồi, mạ khỏỉ cần kể nữa. Và để chứng minh, tôi kể tiếp cho mạ khúc tiếp theo để mạ tin là tôi đã biết. Tôi thấy mạ mặt buồn xo, hụt hẩng. Mạ ậm à ậm ừ cố nghĩ một chuyện khác để kể cho tôi nghe thế câu chuyện trên, nhưng luồng tư tưởng quen thuộc của mạ lúc đó bị tôi ngắt bất ngờ nên chưa sắp xếp lại kịp chuyện khác. Mạ chỉ muốn nói để mà nói, và có người ngồi cạnh bên nghe mà thôi. Tôi hối hận quá. Thấy mạ mấp máy môi, ấp a ấp úng hoài nhưng nghĩ chưa ra thiệt là tội nghiệp. May lúc đó tôi nghĩ là phải mớm lời cho mạ nên giả bộ hỏi “ Hồi mạ còn nhỏ, mạ bán gì ở chợ Đông Ba vậy ?” Thế là mạ bắt được đà, bà bèn kể tiếp cho tôi nghe chuyện ông Cố Đạo người Pháp mỗi vài tháng ra mua hàng của mạ…lần này thì tôi nghe một cách thiệt tình, thỉnh thoảng còn bàn thêm vài điều bên lề nữa khiến mạ thích vô cùng.
Ban đầu thì tôi nghe để cho mạ vui. Nhưng càng về sau, tôi thấy như mình cũng có những lúc sống hòa vào với thế giới của mạ. Mạ mới nhắc đến giỏ hàng xén tạp hóa là tôi như thấy cả cái chợ ĐÔNG BA trước mặt mình với rừng người tấp nập, có một cô bé mười bốn mười lăm tuổi gói hàng bán cho một ông Cố râu ria xồm xoàm, aó đen thụng thịnh, tóc trắng toát, cố gắng lắng nghe để hiểu mớ tiếng Pháp chắp vá của cô hàng xén nhỏ tuổi. Thỉnh thoảng ông cưòi to thích thú vì cô hàng xén xinh xinh này nói tiếng Tây thiệt là…tức cười và dễ thương. Cô không biết. Cô tưởng là ông Tây cười khen cô nói hay, nên cô cố nói thêm càng nhiều càng tốt. Và vì vậy mà ông Cố Tây lại càng cười thêm…
Mạ tôi cũng kể cho tôi nghe rằng hồi 9, 10 tuổi gì đó tôi đau một trân kinh hồn. Giữa đêm khuya, tôi nóng sốt đến độ máu cam từ mủi chảy ra như suối. Mạ tôi đã dùng hết khăn trong nhà mà vẫn chưa đủ cho tôi lau. Tôi mất nhiều máu quá đến nổi đã bắt đầu mê man rồi. Lúc đó nhà tôi mới từ Huế dọn vào. Ba tôi vắng nhà đi làm xa. Lạ nước lạ cái, nhà thương bệnh viện ở đâu không biết, hàng xóm neo đơn, mà lại đêm khuya khuya khuắt biết kêu nhờ ai! Mạ tôi chỉ còn ôm tôi vào lòng và cầu nguyện. Lúc đó bà nghe như có tiếng nạng gổ gõ lên sàn nhà, tiếp theo là tiếng dép kéo lê. Rõ ràng là có một người què đang đi trong nhà. Nhưng mạ đã quá mệt mỏi và cũng đang thiếp đi. Rồi bà thấy rõ ràng, không hiểu là thiệt hay trong giấc mơ, một người lính chống nạng gổ đi đến và sờ vào trán tôi, xong rồi ông ta lại kéo nạng đi ra khỏi nhà. Sáng hôm sau, như một phép nhiệm mầu nào mà tôi bớt hẳn, gần như đã hết bệnh mặc dù là chưa uống một viên thuốc nào cả.
Tôi vốn là một thằng bé ham chơi thuở ấy nên đã gây cho mạ không ít nhọc nhằn. Hình như không có một môn chơi nào của con nít trong xóm mà thiếu mặt tôi, từ đánh đáo ăn tiền, đến bắn bi, tạt hình, chọi lính…món nào tôi cũng một cây xanh rờn. Mạ tôi lo tôi ham chơi mất sức rồi bỏ học nên cố kềm bằng cách bắt tôi mỗi trưa phải… đi ngủ. Dĩ nhiên là tôi chỉ nằm trình diễn thôi, đợi cho mạ ngủ là tôi rón rén dậy xách đồ nghề dông một mạch vào xóm chơi. Tỉnh dậy không thấy thằng con đâu, mạ tôi lại phải đội nắng đi vào xóm kiếm. Bà biết đích xác chỗ nào tôi thường đàn đúm. Có những lần tôi đang lom khom cúi nhắm mấy hòn bi dưới đất để bắn thì bỗng thấy đôi dép quen thuộc ngay trước mặt. Khỏi cần nhìn lên tôi cũng đủ biết là ai, bèn ba chân bốn cẳng chạy ù về nhà. Tôi phải về trước mạ, lấy cái khăn hay cái áo nào đó chêm sau mông. Mạ có cái roi đánh đau lắm nên tôi phải lo độn trước kẻo không là …thê thảm. Rồi mạ về tới, bắt tôi nằm xuống nả cho mấy roi. Chẳng đau gì cả nhưng tôi cũng giả bộ la “ui- da ui- da” rối rít. Mạ thấy tội bèn cho… thiếu nợ, chỉ dọa lần sau tái phạm trả gấp đôi. Tôi nào ngán, vì đã có áo giáp hộ thân, và hơn nữa mạ đâu có nhớ? Tôi chỉ thắc mắc một điều là sao mạ không nhận ra sự khác nhau. Khi tôi chưa kịp độn áo sau mông, roi đụng vào thịt thì nó kêu “ bép- bép”; còn khi nào tôi đã kịp độn áo rồi thì nó kêu “ phộp- phộp” rõ ràng như vậy mà mạ không biết nên tôi mặc tình mà lờn mặt.
“Bí mật” này tôi vẫn giử kín gần 40 năm, cho tới khi mới chỉ gần đây thôi. Trong một dịp họp mặt gia đình anh em, con cháu đầy đủ, tôi bèn “ bật mí” lên để chọc mạ cho vui, ai ngờ mạ phản pháo “ Thằng khỉ. Mi tưởng tau ngu không biết mi chêm cái chi đó trong quần hay sao? Tau cố tình lờ cho mi đó chứ!” Cả nhà tôi cười như nước vở bờ, và thằng con tôi là to họng nhất. Nó khoái quá, hả hê khen “ Bà nội thông minh quá. Smart quá. Ba là ‘bad boy’đó bà nội ơi!”. Ha ha. Bà nội có hiểu bad boy là gì đâu, “mày” ơơơi !
***
Một buổi chiều đi làm về, tôi ghé lại để nghe mạ kể chuyện, nhưng bà đang ngủ. Tôi kéo ghế cạnh giường ngồi nhìn mạ.
Đã từ lâu tôi biết là bà không khoẻ, nhưng vẫn nghĩ rằng ai cũng bệnh già thế thôi. Bữa nay tôi mới có dịp ngắm lại mạ lúc bà đang ngủ. Hơi thở của bà sao mệt nhọc quá, khò khè và đứt quảng. Mạ ngủ mà phải há miệng ra để thở và tôi thấy răng của mạ chỉ còn vài cái loe hoe, lủng lẳng! Nhưng điều làm tim tôi nhói lên khi mạ chìa cánh tay ra khỏi mền. Ôi cánh tay của mạ tôi đâu còn là tay nữa mà chỉ là một thanh củi khô, da bọc lấy xương. Lớp da đồi mồi ở ngay bả tay không còn miếng thịt nào để bao bọc nên nó nhẽo nhẹt và lòng thòng một cách thảm thương. Tôi nghe mạ than là khó thở, nhưng không ngờ mạ phải thở một cách khó nhọc như vậy. Tôi biết là mạ ốm, nhưng không ngờ mạ ốm đến giơ xương. Tôi không nở nhìn mạ lâu hơn, phải bước vội ra ngoài tới bàn thờ Phật để ổn định lại tâm hồn .
Trước bàn thờ Phật. Tượng Phật Bà Quan Âm với bình nước Cam Lồ hiền từ nhìn. Bỗng nhiên tôi cảm thấy như có một sự thiêng liêng nào đó phảng phất trong không gian. Một cảm giác lâng lâng khó tả. Tôi thắp một nén nhang và khấn thầm “Thưa Phật. Trước hết con biết tuy là Phật tử, nhưng con không phải là một Phật tử thuần thành được thấm nhuần Phật pháp. Vì vậy mà giáo lý của đức Phật nhiều khi con hiểu chưa thực chính xác, nên nếu con nói có gì không đúng thì đành vậy. Con vẫn thường nghe nói về luật nhân quả của đạo Phật. Nhân nào thì quả nấy. Làm hiền gặp lành và làm ác gặp ác. Bao nhiêu năm qua con nghĩ là mình đã làm nhiều việc thiện. Và con chưa bao giờ mong việc mình làm sẽ mang lại một nhân quả tốt nào cho chính con cả. Nhưng bây giờ nếu đức Phật vì những nhân lành mà con đã gieo, và sẽ cho con những quả tốt như một sự đền bù thì con xin nhận. Không phải cho con, mà cho mạ con. Thưa Phật. Con biết rằng con người sinh ra thì ai cũng đều mang một số mệnh. Ai rồi cũng sẽ đi qua đọan đường sinh, lão, bệnh, tử. Vi vậy mà con không dám cầu cho mạ con sống lâu trăm tuổi. Bởi vì cầu cũng không được. Con chỉ xin cho mạ con được sức khoẻ và sự an nhiên trong quảng đời còn lại là con mãn nguyện lắm rồi. Một mai khi nợ trần đã dứt, xin Phật đón mạ con về trong sự bình yên. Chỉ vậy thôi.”
Có tiếng mạ kêu trong phòng. Tôi đi vội vào kẻo mạ trông và lòng thầm nghĩ không biết bữa nay mạ sẽ kể cho nghe chuyện gì nhỉ? Chuyện ông Cố đạo, hay là chuyện ông lính chống nạng giữa đêm, hay là chuyện… chuyện gì cũng được. Bây giờ thì mạ còn nói, tôi còn được nghe là cũng may mắn, hạnh phúc rồi. Tôi biết là mạ không còn như xưa để thỉnh thoảng nấu canh thơm cho tôi nữa, nhưng cái gia vị MẸ tuyệt vời đó nào phải vì vậy mà mất đi đâu. Nó vẫn đậm đà và nồng ấm qua từng gịong nói, từng cái nhìn của mạ đó mà.
Như hôm kia tôi đến ngồi cạnh bên. Mạ bỗng nhìn lên đầu tôi thật lâu, rồi nói giọng lo lắng “Con bịnh chi mà tóc bạc nhiều quá?”
ThaiNC
3-26-2010
Nam thanh nữ tú, ghé qua đây Để lại câu thơ, khúc nhạc hay Từ muôn phương đến, chung tay viết Bao nỗi ân tình, vui, ... đó đây
Lễ Vu Lan nhớ mẹ

Mẹ tôi tóc bạc da mồi
Nuôi con tần tảo một đời hy sinh
Chăm con từ thuở mới sinh
Khi con khôn lớn, tận tình bảo ban
Dạy con Hiếu Nghĩa vẹn toàn
Đừng tham danh lợi đa đoan cuộc đời
Lời mẹ dậy cố vâng lời
Nguyện xin đền đáp công ơn của người
Năm xưa mẹ đã qua đời
Chúng con ở lại muôn lời tiếc than
Mỗi năm đến lễ Vu Lan
Cài bông hoa trắng nhớ thương mẹ già
Chắp tay cúi lạy Phật Bà
Nhẩm câu kinh kệ Di Đà mười phương
Thắp nhang quỳ lậy tứ phương
Con xin tu tập theo đường mẹ khuyên
Cầu xin thế giới bình yên
Cầu cho đất nước ba miền yên vui
Đời người dân bớt nổi trôi
Mọi nhà hạnh phúc khắp nơi vui mừng
Nguyễn Mạnh Cường
07/31/2011
DI SẢN NGƯỜI LÍNH


Ngày nào tung hoành bao chuyến bay
Vượt trên khói lửa,chín từng mây
Mấy ai hiểu được người tráng sĩ
Nợ nước, tình nhà, mãi còn đây
…
Cũng như mọi lần, Huy lại ghé ngang thư viện để mượn thêm vài cuốn sách cho đề tài nghiên cứu của mình. Trường đại học của Huy đang học có một vẻ cổ kính và trang nghiêm như trường đại học Oxford của Anh với những con đường dài gồm hai hàng cây cao có những nhánh vươn dài và đan vào với nhau như con đường Tú Xương đã một thời vang bóng ở Sài Gòn. Mấy hôm nay Cali hơi lạnh, cái lạnh đột ngột và se sắt khiến Huy phải bước nhanh để tiến vào thư viện của trường. Chàng ghé vào máy vi tinh và nhanh chóng tìm kiếm những danh mục có liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình. Danh sách thì dài nhưng rồi Huy cũng tìm được những cuốn sách thích hợp và sửa soạn để rời khỏi thư viện.
Bổng dưng chàng nghe một giọng Bắc nhỏ nhẹ ở đằng sau lưng:
"Xin lỗi, anh có phải là người VN?"
Huy quay lại va chàng trả lời :
"Vâng, Xin lỗi cô cần gì?"
"Em là Trâm, đang học năm đầu của ngành tâm lý giáo dục và em mới tới Cali được sáu tháng. Em đang muốn tới buiding E của Education department thì bị lạc đường. Anh có thể chỉ cho em lối vào Building E được không? Em có lớp học ở đó trong nữa tiếng nữa."
Huy hướng dẩn Trâm tới lớp học của nàng cách đó không xa và thế là từ đó hai người quen nhau.Từ bữa đầu tiên, Tram đã cuốn hút Huy với dáng người mành mai, mái tóc dài ngang vai và một giọng nói dịu dàng. Trâm có một cặp mắt to với hàng lông mi dài và gợi cảm. Mặc dù mới hơn hai mươi lăm, Trâm có một vẻ trầm lặng và già giặn cũa một thiếu nữ ở lứa tuổi ba mươi. Nang ít nói về mình, có vẻ kín đáo và khép kín. Cho tới một hôm, sau khi giúp Trâm thay bánh xe bể, nàng mời chàng về nhà ở gần trường để dùng cơm.
Căn apartment ở trong một khu phố cổ kính và thật là xinh xắn. Bên trong được bài trí một cách vừa phải với những chậu hoa Lan được cắt tỉa một cách khéo léo. Chàng được Trâm giới thiệu với bố nàng, một ngươi đàn ông gầy gò và im lặng. Trâm khẻ nói :
"Bố em là như vây đó với tất cả mọi người từ khi mẹ em qua đời cách đây hai năm. Bây giờ ông đã về hưu và chỉ lo chăm sóc những khóm Lan mà thôi."
Từ từ hai người gần nhau hơn và Huy được biết là bố nàng là môt sĩ quan không quân trong quân lực VNCH. Ong đã ở lại và nằm trong trại cải tạo hơn mười năm. Sau khi tới Mỹ trong diện HO, ông và mẹ nàng làm việc vất vả để nuôi dạy Trâm ăn học thành tài. Chẳng may khi Trâm ra trường và kiếm được việc làm thì mẹ nảng lâm trọng bệnh và ra đi trong một khoảng thời gian thât là ngắn, Trâm nói với Huy :
"Em và ba vẫn còn đau khổ và ngở ngàng nhiều trước sự ra đi của mẹ"
Khi nàng nói xong, Huy thấy đôi mắt nàng đẩm lệ. Huy cảm nhận được sự xúc động của nàng nhiều lắm vì chàng cũng rất la thương mẹ. Mẹ chàng mất cách đây năm năm sau môt cơn bạo bệnh. Bố chàng là một thương gia thành đạt ở Sài Gòn trước năm 75 nên Huy cũng không biết gì nhiều về đời sống của những gia đình quân nhân VNCH. Chàng lại may mắn rời VN trước 30 thang 4 nên cuôc sống của chàng ít gập ghềnh nếu phải so sánh với Trâm. Từ ngày quen Trâm, Huy mới hiểu hơn những sự đau khổ và chịu đựng của những gia đình chiến sĩ VNCH va những gánh chịu họ phải trả khi kẹt lại VN. Chàng cũng nhận thấy là bố Trâm cũng từ từ chịu nói chuyện với chàng nhiều hơn khi chảng tò mò hỏi thêm về đời sống của nhửng người quân nhân trong thời chiến, Ông cũng kể cho chàng nghe nạn trầm cãm mà ông phải chịu đựng cho tới nay sau những năm tháng sống trong ngục tù đọa đầy cua chính quyền CSVN. Có những buổi tôi Ông tỉnh dậy và vẫn cứ tưởng là mình còn năm trong trại cãi tạo, mình mẫy ướt đẩm mồ hôi. Đôi khi Ông giận dữ và làm Trâm và mẹ sợ hãi cho tới khi Ông nhận ra là mình bị trầm cảm và tự tìm cách chửa trị cho mình qua luyên tâp Yoga, tâp thiền va nhờ sự trơ giúp từ bác sĩ tâm lý. Chỉ có một lần, ông gọi chàng ra và nói riêng với chàng:
"Huy à, Bác chỉ có Trâm là con gái độc nhất. Nếu sau này con lấy Trâm, con phải thương yêu và bảo bọc cho nó nhé."
Ba năm sau Huy và Trâm kết hôn. Đươc một năm sau thì Ông mất. Một trong những di sản của Ông là lá cờ vàng ba sọc đỏ mà ông luôn mang theo với ông sau ngày đặt chân tới Hoa Kỳ.
NMC(07/02/2011)
TÂM LÝ TRỊ LIỆU VIỄN LIÊN -Tele psychiatry
Nguyễn Mạnh Cường
Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là một bộ phận của Y Khoa Tri Liệu Viễn Liên (Telemedicine) - YKTLVL. Khoa học nầy sữ dụng thông tin y học trao đổi giửa hai địa bàn thông qua những phương tiện truyền thông điện tữ liên quan đến sức khỏe và giáo dục bệnh nhân hay cơ quan cung ứng dịch vụ y tế và nhằm cải thiện công tác chăm sóc bệnh nhân. Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên bao gồm các dịch vụ tư vấn, chẩn đoán, và trị liệu. TLTLVL đã được thực hiện trên 40 năm nay và sữ dụng kỹ thuật Hội thoại viễn liên (Videoconferencing) để cung ứng dịch vụ tư vấn cho bệnh nhân mắc bệnh tâm lý.
Mục Lục
Tổng Quát
Kỹ Thuật (Technolgy)
Màn Hình (Monitor)
Máy Thu Hình (Camera)
Bộ Phận Mật Mã (CODEC)
Dải Tần (Bandwidth)
Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)
Những Yếu Tố thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)
Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)
Phúc Lợi (Benefits)
Vấn Đề (Issues)
Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)
Tổng Quát
Các hệ thống TLTLVL do Wittson thiết lập vào đầu thập niên 1950 tạI TâmLý Học Viện Nebraska (NPI). Trong tài liệu nhan đề “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatry Care”, Mark Moran cho biết, “Hầu hết các bác sỹ tâm lý đều đồng ý rằng nếu điều kiện cho phép thì việc chẩn đoán và trị liệu trực diện vẫn tốt hơn hết. Tuy nhiên họ nói rằng TLTLVL là một phỏng đoán đủ chính xác để mọi người chấp nhận ngay khi phương pháp trị liệu thường thiếu những dịch vụ về tâm lý.” Mặc dù vẫn còn những vấn đề liên quan đến phương thức thực hiện, phẩm chất và một số những trở ngạI hiện có trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL, kỹ thuật nầy đang càng ngày càng được chấp nhận hơn đới với các bác sỹ tâm lý, các công ty cung ứng dịch vụ y tế và những bệnh nhân ở những vùng quê cũng như quân đội.
Vậy thì Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên (YKTLVL) và Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là gì?
YKTLVL, trong đó có TLTLVL, thường ám chỉ bất kỳ dạng kỹ thuật nào có thể giúp chửa trị y khoa từ hai vị trí địa lý khác nhau - Điện thoại, Fax, lưu trử hồ sơ điện tữ (electronic record keeping), email, Internet để phổ biến tài liệu hướng dẩn cho bệnh nhân. Nhưng kỹ thuật có tiềm năng xa tầm và thích ứng cao nhất là Hội Thoại Viễn Liên (Videconferencing), giúp bác sỹ và bệnh nhân nhìn thấy nhau và đối thoại vớI nhau từ những địa bàn xa qua một máy thu hình và một màn ảnh truyền hình. Và ngày nay, TLTLVL - sữ dụng kỹ thuật để trị liệu và giáo dục tâm lý từ những vị trí địa lý xa nhau – có thể biến thành sự thật những gì trước dây được coi là ngông cuồng.
Trên đay hai từ YKTLVL và TLTLVL đả dưọc định nghĩa rõ ràng và kỹ thuật thông thường nhất dùng cho TLTLVL là Hội thoại viễn liên (Videconferencing) - HTVL. HTVL đã được sữ dụng và thử nghiệm trong một số hệ thống YKTLVL và các nhà chuyên viên nghĩ rằng “TLTLVL hứa hẹn sẽ bành trướng dịch dụ điều trị tâm lý, đặc biệt trong những vùng xưa nay vốn thiếu những dịch vụ nầy.” Và một số nghĩ rằng “đó là trào lưu của tương lai” (Rodrigo Muñoz, M.D, Chủ tịch Hiệp Hội Tâm Lý Hoa Kỳ). YKTLVL tạo điều kiện phỏng vấn bệnh nhân ở cách xa hàng dặm. Đó là một một ứng phó trước tình trạng phân phối không y sỹ đồng đều, và là cơ hội để thăm dò giới hạn hiệu năng của khoa học kỹ thuật.
Kỹ Thuật (Technology)
Các Bác sỹ Tâm lý nhờ vào kỹ thuật HTVL để phỏng vấn, cố vấn và chẩn đoán bệnh nhân. Hình 1 tượng trưng một biểu đồ của những hệ thống HTVL điển hình dùng cho YKTLVL trong một tài liệu nghiên cứu gần đây về HTVL. Biểu đồ minh họa những thành tố chính của các hệ thống YKTLVL/TLTLVL, gồm có màn hình, máy thu hình, bộ phận mật mã, máy vi tính, vi âm, và loa phóng thanh.
Màn Hình (Monitor)
Màn hình chiếu lên hình ảnh hoạt trường và những ngườI liên hệ ở đầu bên kia. Các phòng có thể chia thành nhiêu đơn vị và chiều dài mỗI đơn vị tốI thiểu là 33 feet. Một màn hình vi tính 17 inch là thích hợp nhất cho những cuộc phỏng vấn thường lệ.
Máy Thu Hình (Camera)
Máy thu hình dùng để thu những hình ảnh tạI hoạt trường và gởI hình qua đầu bên kia. Chất lượng của lăng kính rất quan trọng và những lăng kính có hoành độ rộng (wide-angle lens) rất hữu ích khi hoạt trường có từ hai ngườI trở lên.
Bộ Phận Mật Mã (CODEC)
Bộ phận nầy là đầu nảo của hệ thống HTVL, giúp chuyển những tín hiệu định hình (analog signals) mà máy thu hình nhận được sang tín hiệu định số (digital signals) và thu nén chúng lại (compress) trước khi truyền tải sang bên kia. Ở đầu bên kia, một bộ phận tương tự chuyển những tín hiệu ngược trở lại dạng định số để có thể xem được trên màn hình.
Dải Tần (Bandwidth)
Từ nầy ám chỉ số lượng dữ kiện (data) có thể truyền tải trong một thời gian cố định. Những Hệ Thống Định Số Hệ Phân Toàn Vụ (ISDN – Integrated Services Digital Networks) được sữ dụng để tránh dị dạng về hình ảnh và âm thanh (image and voice distortion).
Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)
Với những trang thiết bị và nhu liệu điện toán, máy vi tính được dùng để cung ứng những lập trình đối tác (interactive applications) và HTVL.
Trang thiết bị dành cho YKTLVL khác biệt rất nhiều về giá cả, từ vài trăm Dollar để sữ dụng Internet cho đến trên $60,000 cho những hệ thống thượng thặng dùng cho cả phòng. Cái khó khăn khi phỏng định giá cả cho TLTLVL càng trở nên phức tạp hơn vì tính chất năng động của kỹ thuật HTVL.
Khi so sánh phương pháp phỏng vấn trực diện cỗ truyền vớI phương pháp phỏng vấn TLTLVL theo những điều kiện và chẩn đoán khác nhau, các nhà nghiên cứu theo dõi quá trình thử nghiệm những hệ thống TLTLVL cho biết, “Sự gián cách giửa bác sỹ điều trị và bệnh nhân gần như không có ảnh hưởng gì trong những lần trị bệnh.” Từ cuộc thử nghiệm áp dụng những hệ thống TLTLVL đầu tiên, các nhà nghiên cứu “nhận thấy các bệnh nhân và thân quyến của họ tiếp thu rất tốt đối với hình thức truyền thông nầy.”
Những Yếu Tố Thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)
Căn cứ trên những tài liệu phê bình về những hệ thống TLTLVL, năm yếu tố thành công then chốt được mô tả như sau:
1. 1. Thóa đáng (Satisfactory): Những hệ thống TLTLVL phải được thực hiện với những một thiết bị đối tác thân thiện (friendly user interface) và cung ứng những dịch vụ gíup bác sỹ cảm thấy thoảI mái khi sữ dụng.
2. 2. Dễ truy cập (Accessibility): Những hệ thống TLTLVL phảI dễ truy cập trong những vùng nông thôn hay hẻo lánh vớI dảI tần hạn chế.
3. 3. Chất Lượng (Quality): Hình ảnh tốt và không bị trục trặc trong khi phỏng vấn hay tham vấn.
4. 4. An Toàn (Security): Bảo mật dữ kiện, hình ảnh và thông tin của bệnh nhân.
Những yếu tố thành công then chốt nầy sẽ giúp những người quản lý công trình tạo được một kế hoạch công trình tốt, tránh thất bại khi thực hành và triển khai hệ thống TLTLVL. Thực vậy, mọi công tác HTVL muốn thành công cần phải có khả năng làm cho bệnh nhân vui thích với những dịch vụ của mình. Phẩm chất của dự án gồm có: hình ảnh phải tốt, âm thanh rõ, và hệ thống dễ sữ dụng và điều khiển. Nếu những hệ thống HTVL được liên kết với các hệ thống y tế khác và được sữ dụng như nhữn phương tiện trị liệu thì nó cần được đảm bảo sẽ bảo mật những riêng tư của bệnh nhân. Hiệu năng cũng là một yếu tố then chốt khác của các hệ thống HTVL vì hầu hết những Trưởng Phòng Điều Hành (CEO) và Tổng Quản Đốc đều muốn hệ thống phảI hoạt động liên tục trong thời gian hội thoại.
Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)
Đa số các hệ thống TLTLVL đều có một cơ cấu truyền thông hạ tầng hổ trợ kỹ thuật truyền tin nội bộ giửa các máy vi tính (TCP/IP) và trên mạng. Các bác sỹ tâm lý sẻ phỏng vấn bệnh nhân bằng phương pháp trực diện cỗ truyền hay sữ dụng kỹ thuật trên mạng theo ngôn ngữ lập trình .NET, Định trường 3.5 (Framework 3.5), hay Java theo lối hỏi/đáp. Họ có thể thực hiện những báo cáo thẩm định và đề nghị phương án điều trị căn cứ trên những báso cáo nầy. Với đà phát triển mạnh và nhanh của kỹ thuật HTVL, các bác sỹ tâm lý có thể đủ khả năng để tiến hành phỏng vấn bệnh nhân và theo dõi việc điều trị bằng điện thoại di động hay những hệ thống truyền hình có độ rõ cao (HD systems).
Các tiêu chuẩn sữ dụng những hệ thống HTVL được định nghĩa bỡi Ủy Hội Viễn Thông Quốc Tế (ITU) tại Thụy Sỹ. Dưới đây là một số những tiêu chuẩn được các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ sữ dụng:
• • H.320 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại viễn liên có dải tần hẹp (narrow bandwidth) sữ dụng mạch điện xoay chiều như N-ISDN, SW56, các hệ thống đặc dụng (dedicated networks)
• • H.321 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
• • H.323 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật không đảm bào chất lượng (LAN – Local Area Network, Internet, v.v.)
• • H.324 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rất hẹp sữ dụng hệ thống điện thoại thường
• • H.310 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rộng và sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
Phúc Lợi (Benefits)
Khi sữ dụng những hệ thống TLTLVL, bệnh nhân có thể tiết kiệm được thì giờ và tiền bạc vì có thể khám bệnh mà không cần phải đi đến phòng mạch bác sỹ. Sau đây là những thí dụ điển hình về việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania:
“Việc sữ dụng YKTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania giúp giảm thiểu số lượng vận chuyển bệnh nhân bằng máy bay tới Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield. Số lượng bác sỹ TLTLVL tại FMC-Lexington cùng với nghiệp vụ chuyên môn của họ được xem như đã giúp điều trị và theo dõi những bệnh nhân tâm thần hiệu quả hơn. Đối với những bệnh nhân được ổn định và được theo dõi như thế, những khủng hoảng đã tránh được. Khi tâm lý những tù nhân trở nên xáo trộn họ tìm đến ngay các bác sỹ TLTLVL để những người nầy có thể tìm cách nói để xoa dịu họ xuống, nhờ đó chuyển hướng được một cơn khủng hoảng cấp tính và không phải chuyển bệnh nhân đến trại tâm thần tại Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield.”
Ngoài vấn đề tiết kiệm tiền bạc và thì giờ, những hệ thống TLTLVL có thể dùng để huấn luyện y tá và viên chức cải huấn biết cách đối phó với hành vi quá khích của các tù nhân bị bệnh tâm thần trong khi giám sát những hoạt động hằng ngày của họ hầu ngăn ngừa bạo động.
Vấn Đề (Issues)
Vẫn có những vấn đề kỹ thuật trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL. Trước nhất, một số bác sỹ vẫn không muốn ssũ dụng chúng vì họ chưa cảm thấy tụ tin khi ssữ dụng kỹ thuật nầy và một số hệ thống và lập trình hãy còn chưa hoàn toàn dễ sữ dụng, khó khai triển và thực hành. Thứ hai, nếu sữ dụng một hệ thống với dải tần hẹp thì có thể sẽ bị châm trể trong khi phỏng vấn hay tham vấn. Một số hệ thống sữ dụng truyền hình với độ rõ cao (HDTV) sẽ cung ứng hình ảnh chất lượng cao và âm thanh rõ và không bị chậm trể hay trục trặc nếu hoạt động trong hệ nội bộ (LAN/WAN). Tuy nhiên, tốn phí hãy còn rất cao ($20,000 - $60,000 mỗi hệ thống). Kỹ thuật nầy còn đòi hỏi tốn phí để huấn luyện nhân viên vi tính để yểm trợ, bảo trì, và liên kết hệ thống TLTLVL với cơ cấu tin học hạ tầng (iT infrastructure).
Mặc dù những hệ thống TLTLVL còn một số vấn đề kỹ thuật, việc sữ dụng chúng sẽ tiếp tục phát triển trong 10 năm tới. Với giá xang dầu tăng cao, bệnh nhân sẽ thích sữ dụng các hệ thống TLTLVL hơn là đi đến các phòng mạch bác sỹ. Kỹ thuật cũng cho phép bệnh nhân chọn ngày giờ hẹn với bác sỹ tâm lý và họ cũng có thể xem được kết quả thử máu hay các kết quả thử nghiệm khác qua những lập trình vi tính trên mạng. Các bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng có thể sữ dụng những hệ thống nầy để cung ứng dịch vụ tốt hơn cho bệnh nhân của mình và huấn luyện những đồng nghiệp trong cùng ngành. Với công tác chỉ đạo hiệu quả trong qủan trị y tế, bệnh viện, những định chế nghiên cứu, những nhà lập pháp, cơ quan liên bang và tiểu ban, các hệ thống TLTLVL sẽ gia tăng trong các bệnh viện, quận hạt, tiểu bang, quốc gia và ngay cả tại tư gia của chúng ta. Chiều hướng đó sẽ gia tăng truy cập cho các bệnh nhân, thành viên, chuyên gia, bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng.
Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)
Theo một tài liệu của Hiệp Hội Viễn Thông Quốc Tế (Comité Consultatif international Télégraphique et Téléphonique), tiêu chuẩn kỹ thuật H323 được mô tả là một trong những thành tố trọng yếu trong công trình triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng (voice-over iP services). “Tiêu chuẩn H323 được coi là trọng yếu trong việc hổ trợ triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng, và nhận được sữ yểm trợ rộng rãi của các công ty sản xuất thiết bị nhờ vào khả năng đa hệ (interoperability) của nó. Người ta ước tính những hệ thống sữ dụng tiêu chuẩn H323 truyền tải được hàng tỷ phút âm thanh mỗi tháng. H323 cũng được sữ sụng trong các hệ thống HTVL.”
Bên cạnh là cấu trúc của một hệ thống HTVL điển hình dùng cho các hệ thống TLTLVL sữ dụng H323 với nhiều điểm kiểm định (Multiple Control Points).
Hệ thống HTVL hổ trợ điện thoại di động, máy vi tính cá nhân, máy truyền hình độ rõ cao, và những lập trình trên mạng. Bệnh nhân, công ty cung ứng dịch vụ y tế, nhân viên cải huấn có thể vào hệ thống bằng điện thoại di động, hay máy vi tính cá nhân co gắn Webcam (máy thu hình trên máy vi tính) có dịch vụ Internet hay máy truyền hình sữ dụng hệ thống ISDN để tham vấn với bác sỹ tâm lý mà không cần phải mang bệnh nhân tới phòng mạch. Hệ thống sẽ giúp tiết kiệm thì giờ và tiền bạc cho gia đình và cơ quan chính phủ. Bệnh nhân vẫn có thể hưởng được những dịch vụ thích hợp vớI thờI gian chờ đợI ngắn hơn. Ngoài ra, bệnh nhân vẫn có thể hưởng được sự hổ trợ và tham vấn từ bác sỹ ngay cả khi sinh sống trong những miền quê hay nơi hèo lánh hoặc đang đi du lịch bằng cách gởi thông điệp bằng chử trên điện thoại di động.
Bản TiếngAnh
Telemedicine is the use of medical information exchanged from one site to another via electronic communications for the health and education of the patient or healthcare provider and for the purpose of improving patient care. Telemedicine includes consultative, diagnostic, and treatment services. Telepsychiatry has been implemented for over 40 years and uses videoconferencing technology to provide consulting services for patients with mental illness.
Contents
Introduction
Technology
Monitor
Camera
CODEC
Bandwidth
Personal Computer
Critical Success Factors
Infrastructure and Framework
Benefits
Issues
Future Applications
See Also
References
Introduction
The first Telepsychiatry systems were implemented by Wittson in the early 1950s at the Nebraska Psychiatric Institute (NPI). According to “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care “, Mark Moran states, “Most psychiatrists agree that when possible, face-to-face assessment and treatment are optimal. However, they say that Telepsychiatry is a close-enough approximation to make it more than acceptable when the alternative is no access to psychiatric services. “[1] Even though there are still issues related to implementation, quality and some existing barriers for using Telepsychiatry systems, the technology is becoming more and more adopted by psychiatrists, healthcare providers and patients living in rural areas as well as the military.
Then what are Telemedicine and Telepsychiatry? “Telemedicine, of which Telepsychiatry is a specialty, refers generally to the use of any kind of technology to facilitate the practice of medicine across distances—phone, fax, electronic record keeping, e-mail therapies, and use of the Internet to post educational material for patients. But the model that has the most far-reaching and transformative potential is the use of videoteleconferencing (VTC), allowing physicians and patients to see and talk to each other in remote sites using a video camera and television screen.“ [1]And today "Telepsychiatry"—the use of technology to facilitate psychiatric treatment and education across distances—could turn what once seemed like a whimsical fantasy into reality.” [1]
In the previous paragraph, Telemedicine and “Telepsychiatry” have been clearly defined and the most common technology was used for Telepsychiatry is Video Teleconferencing (VTC). The VTC technology had been used and tested in some Telemedicine systems and the experts think “it promises to expand access to psychiatric care, especially in traditionally underserved areas and practice settings” and some think it is the wave of the future," said former APA president Rodrigo Muñoz, M.D. "Telemedicine makes it possible to interview someone who is miles away from you. It is a response to the maldistribution of physicians and psychiatrists, and it is an opportunity to explore the limits of the power of technology."
Technology
Psychiatrists rely heavily on video conferencing technology to interview/consult and examine patient. Figure 1 shows a diagram of typical Telemedicine video conferencing systems in a recent study of a video conferencing project [7]. The diagram illustrates the major components of any Telemedicine/Telepsychiatry systems that are including monitors, cameras, CODEC, a desktop computer, microphones, and speakers.

Monitor
The monitor shows a picture of a local site and the image of the people at the distant site. Rooms can be divided into many units and each unit is 33’’ or larger. A 17’’ desktop monitor is preferred for routine interview.
Camera
The camera is used to capture the image at the local site and send it to the other site. The quality of the lens is very important and wide-angle lens is useful if more than one or two people to be viewed.
CODEC
“The CODEC (coder-decoder) is the heart of the teleconferencing device. It transforms the analog signal(the picture) picked up by a video camera to a digital signal and compresses it for transmission to the distant site; there, another CODEC transforms the digital back to an analog one for viewing the video monitor.”
Bandwidth
The bandwidth refers to the amount data that can be transmitted in a fixed amount of time. Digital ISDN (128Kbps) lines are used to avoid image and voice distortion.
Personal Computer
A desktop computer can be used with hardware and software packages to provide interactive applications and videoconferencing.
“Telemedicine equipment varies widely in cost, from a few hundred dollars for Internet access to $60,000 plus to top range room systems. The difficulty in quoting costs for Telepsychiatry is further complicated by the dynamic nature of the video conferencing technology”. [7]
By comparing the traditional face-to-face interview with the Telepsychiatry interview using the video conferencing technology across the various diagnoses and conditions, the researchers involved in the trial of the implementation of the Telepsychiatry systems said, “The isolation of the therapist from the patients had almost no effect on group sessions”. From the trial of the first implementation of Telepsychiatry systems, researchers “found patients and relatives were very receptive to this form of communication.”
Critical Success Factors
Based on literature review on the existing Telepsychiatry systems, five critical successful factors have been identified as follow:
1) Satisfactory : the Telepsychiatry systems has to be implemented with a friendly user interface and provide the services that makes the psychiatrist feel comfortable with using them
2) Accessibility : Telepsychiatry systems has to be easily access in the rural, isolated areas with limited bandwidth
3) Quality : Good image and no down time during the interview/consultation
4) Security : protect patient’s data/image and information
These Critical Success Factors will help the project managers create a good project plan, avoid failure for their future implementing and deploying Telepsychiatry systems.
Indeed, every successful videoconferencing needs to be able to make users happy with its services. The Quality of the projects like good images, sound needs to be clear and the systems are easy to be used and operate are key factors for successful. If the conferencing systems are integrated with other health care systems and are used as tools to treat patients, it needs to be secured to protect privacy of patients. Performance is also another key factor for conferencing systems because most CEOs and senior management will expect systems up and running without any interruption during their meetings or conferences.
Infrastructure and Framework
Most of the latest Telepsychiatry systems will have a telecommunication infrastructure supporting TCP/IP protocol and internet technology. The psychiatrists will interview their potential clients by traditional way like face to face interview or using web-based application using .Net framework (3.5) or Java technology to click and choose the answer. They can make assessment reports and suggesting treatment plan based on those assessment reports. With the growing strong and fast of video conferencing technology, psychiatrists might be able to conduct interview with their patients and follow up their treatment using cell phone/HD systems.
The standard of using video conferencing systems is defined by International Telecom Union (ITU) based in Geneva, Switzerland. Here are some of the standards used by the manufactures and service providers:
• H.320 is a standard for Narrow-band videoconferencing over circuit-switched networks(N-ISDN, SW56, dedicated networks)
• H.321 is a standard for Narrow-band videoconferencing over ATM and B-ISDN
• H.323 is a standard for Narrow-band videoconferencing over non-guaranteed quality-of-service packet networks (LAN, Internet, etc.)
• H.324 is a standard for Very narrow-band videoconferencing over the general (dial-up) telephone network
•
Benefits
By using Telepsychiatry systems, we can save time and money by allowing patients getting consulting office without going to the doctor’s office. Here is one of the good examples of using Telepsychiatry systems for three Pennsylvania prisons:
“The use of Telemedicine systems for three Pennsylvania prisons helps to reduce number of emergency airlift to Federal Medical Center at Springfield. The availability of psychiatrists at FMC-Lexington, via Telemedicine, and their expertise were thought to result in more effective medication and monitoring of prisoners suffering from psychiatric illnesses. With prisoners, thus stabilized and monitored, crises were avoided. When prisoners became agitated, they had quick access to the remote psychiatrist, who was able to "talk them down," thereby sidetracking a downward spiral and averting a transfer to the psychiatric ward at Federal Medical Center at Springfield.”[6]
Besides saving time and cost, Telepsychiatry systems can be used to train nurses and correctional officers to deal with extreme behavior of mental prisoners while monitoring their daily activities to prevent violence. In this way, Telepsychiatry systems will help save money and time while providing users with a better quality of health care services.
Issues
There are still technical issues with the use of Telepsychiatry systems. First, some doctors still not want to use them because they still not feel comfortable with using technology and some systems and applications are still not quite easy to use, hard to deploy and implementation. Second, if the systems using a system with a low bandwidth, it will cause some delay during the interview or consultation. Some systems using High Definition TV will provide a very high image quality and clear sound with no delay and down time if it is running on the LAN or WAN with the high bandwidth. However, the cost is still high ($20,000-$60,000 per system). It also requires additional cost for training IT personnel for supporting, maintaining, and integrating Telepsychiatry systems with the existing IT infrastructure.
Although Telepsychiatry systems still have some technical issues, their use will continue to grow in the next 10 years. With the rise of oil prices, patients will prefer to get consultation services through the use of video conferencing technology instead of going to the doctor’s office. This will also allow patients to schedule their appointments with psychiatrists and they can also see their blood/medical test results through web based applications. Doctors and psychiatrists can use these systems to provide better services for their patients and help them educate fellow healthcare professionals. With the strong leadership of healthcare administration, hospitals, research institutions, law makers, local and federal agencies, their will be an increase of Telepsychiatry systems implementation in hospitals, counties, states, countries and even our home. This will allow greater access for patients, members, professional personals, doctors and psychiatrists.
Future Applications
According to a paper published by CCITT name “CCITT-50 years of excellent - 1956-2006”, H.323 family as describe as one of the crucial components for developing voice over IP services as follow “The H.323 family of standards has been crucial in fostering the development of new voice-over IP services, winning widespread support from equipment vendors because of the interoperability that it enables. It is estimated that systems using H.323 carry billions of voice minutes each month. H.323 is also widely used in videoconferencing systems.”[8]
Here is the system architecture for a typical video conferencing system for Telepsychiatry systems using Multiple Control Points and using H.323 family of standard in the figure 2 below.

Figure 2: System architecture of a video conferencing system
In the above system, we can see that the videoconferencing supporting mobile phone, PC, HD TV and the web-based applications can run on the desktop computer, mobile phones. Patients/provider/correctional officers can connect to the systems using cell phone (3G network) or computer with web cam using IP network or TV using ISDN network to request consultation from a psychiatrist without bringing mental patients to his/her office. It will help to save money and time for family and government agency and patients can get the appropriate service with less waiting time. Also, patients can still get support and consultation from the psychiatrist even when they live in rural/isolated areas or are traveling via text messaging.
See also
Telemedicine - http://en.wikipedia.org/wiki/Telemedicine
Psychiatry - http://en.wikipedia.org/wiki/Psychiatry
References
[1]. Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care http://pn.psychiatryonline.org/cgi/content/full/39/6/14. .Retrieved on 06/10/08
[2]. ISDN. ISDN Protocols - LAPD | ISDN. Retrieved June 24th, 2008, from http://www.protocols.com/pbook/isdn.htm
[3]. Lawlor, T. LCD projectors, Audio/Video equipment and computers from M Communications. Video Conferencing Gaining Popularity. Retrieved on 06/10/08 from http://www.mcommunications.com/tips/vidConfLaw/.
[4]. Tandberg. Key Considerations for Maximizing - Your Video Architecture: Moving Beyond Point-to-Point Conferencing. July 2005. 13 p.
[5]. Tandberg. Video Conferencing Standards 2.2. D10740. 12 p.
[6]. Telemedicine Averted Costly Transfers to Federal Medical Centers. Retrieved June 16th, 2008, from http://www.ncjrs.gov/Telemedicine/c2c.html.
[7].LeRouge, C.& Garfield, M.J, and Hevner, A.R,”Quality Attributes in Telemedicine Video Conferencing”, Proceedings of the 35th Hawaii International Conference on System Sciences, 2002.
[8]. CCITT-50 years of excellent -1956-2006. Retrieved on 06/16/08 from www.itu.int/ITU-T/50/docs/ITU-T_50.pdf.
Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là một bộ phận của Y Khoa Tri Liệu Viễn Liên (Telemedicine) - YKTLVL. Khoa học nầy sữ dụng thông tin y học trao đổi giửa hai địa bàn thông qua những phương tiện truyền thông điện tữ liên quan đến sức khỏe và giáo dục bệnh nhân hay cơ quan cung ứng dịch vụ y tế và nhằm cải thiện công tác chăm sóc bệnh nhân. Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên bao gồm các dịch vụ tư vấn, chẩn đoán, và trị liệu. TLTLVL đã được thực hiện trên 40 năm nay và sữ dụng kỹ thuật Hội thoại viễn liên (Videoconferencing) để cung ứng dịch vụ tư vấn cho bệnh nhân mắc bệnh tâm lý.
Mục Lục
Tổng Quát
Kỹ Thuật (Technolgy)
Màn Hình (Monitor)
Máy Thu Hình (Camera)
Bộ Phận Mật Mã (CODEC)
Dải Tần (Bandwidth)
Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)
Những Yếu Tố thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)
Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)
Phúc Lợi (Benefits)
Vấn Đề (Issues)
Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)
Tổng Quát
Các hệ thống TLTLVL do Wittson thiết lập vào đầu thập niên 1950 tạI TâmLý Học Viện Nebraska (NPI). Trong tài liệu nhan đề “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatry Care”, Mark Moran cho biết, “Hầu hết các bác sỹ tâm lý đều đồng ý rằng nếu điều kiện cho phép thì việc chẩn đoán và trị liệu trực diện vẫn tốt hơn hết. Tuy nhiên họ nói rằng TLTLVL là một phỏng đoán đủ chính xác để mọi người chấp nhận ngay khi phương pháp trị liệu thường thiếu những dịch vụ về tâm lý.” Mặc dù vẫn còn những vấn đề liên quan đến phương thức thực hiện, phẩm chất và một số những trở ngạI hiện có trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL, kỹ thuật nầy đang càng ngày càng được chấp nhận hơn đới với các bác sỹ tâm lý, các công ty cung ứng dịch vụ y tế và những bệnh nhân ở những vùng quê cũng như quân đội.
Vậy thì Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên (YKTLVL) và Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là gì?
YKTLVL, trong đó có TLTLVL, thường ám chỉ bất kỳ dạng kỹ thuật nào có thể giúp chửa trị y khoa từ hai vị trí địa lý khác nhau - Điện thoại, Fax, lưu trử hồ sơ điện tữ (electronic record keeping), email, Internet để phổ biến tài liệu hướng dẩn cho bệnh nhân. Nhưng kỹ thuật có tiềm năng xa tầm và thích ứng cao nhất là Hội Thoại Viễn Liên (Videconferencing), giúp bác sỹ và bệnh nhân nhìn thấy nhau và đối thoại vớI nhau từ những địa bàn xa qua một máy thu hình và một màn ảnh truyền hình. Và ngày nay, TLTLVL - sữ dụng kỹ thuật để trị liệu và giáo dục tâm lý từ những vị trí địa lý xa nhau – có thể biến thành sự thật những gì trước dây được coi là ngông cuồng.
Trên đay hai từ YKTLVL và TLTLVL đả dưọc định nghĩa rõ ràng và kỹ thuật thông thường nhất dùng cho TLTLVL là Hội thoại viễn liên (Videconferencing) - HTVL. HTVL đã được sữ dụng và thử nghiệm trong một số hệ thống YKTLVL và các nhà chuyên viên nghĩ rằng “TLTLVL hứa hẹn sẽ bành trướng dịch dụ điều trị tâm lý, đặc biệt trong những vùng xưa nay vốn thiếu những dịch vụ nầy.” Và một số nghĩ rằng “đó là trào lưu của tương lai” (Rodrigo Muñoz, M.D, Chủ tịch Hiệp Hội Tâm Lý Hoa Kỳ). YKTLVL tạo điều kiện phỏng vấn bệnh nhân ở cách xa hàng dặm. Đó là một một ứng phó trước tình trạng phân phối không y sỹ đồng đều, và là cơ hội để thăm dò giới hạn hiệu năng của khoa học kỹ thuật.
Kỹ Thuật (Technology)
Các Bác sỹ Tâm lý nhờ vào kỹ thuật HTVL để phỏng vấn, cố vấn và chẩn đoán bệnh nhân. Hình 1 tượng trưng một biểu đồ của những hệ thống HTVL điển hình dùng cho YKTLVL trong một tài liệu nghiên cứu gần đây về HTVL. Biểu đồ minh họa những thành tố chính của các hệ thống YKTLVL/TLTLVL, gồm có màn hình, máy thu hình, bộ phận mật mã, máy vi tính, vi âm, và loa phóng thanh.
Màn Hình (Monitor)
Màn hình chiếu lên hình ảnh hoạt trường và những ngườI liên hệ ở đầu bên kia. Các phòng có thể chia thành nhiêu đơn vị và chiều dài mỗI đơn vị tốI thiểu là 33 feet. Một màn hình vi tính 17 inch là thích hợp nhất cho những cuộc phỏng vấn thường lệ.
Máy Thu Hình (Camera)
Máy thu hình dùng để thu những hình ảnh tạI hoạt trường và gởI hình qua đầu bên kia. Chất lượng của lăng kính rất quan trọng và những lăng kính có hoành độ rộng (wide-angle lens) rất hữu ích khi hoạt trường có từ hai ngườI trở lên.
Bộ Phận Mật Mã (CODEC)
Bộ phận nầy là đầu nảo của hệ thống HTVL, giúp chuyển những tín hiệu định hình (analog signals) mà máy thu hình nhận được sang tín hiệu định số (digital signals) và thu nén chúng lại (compress) trước khi truyền tải sang bên kia. Ở đầu bên kia, một bộ phận tương tự chuyển những tín hiệu ngược trở lại dạng định số để có thể xem được trên màn hình.
Dải Tần (Bandwidth)
Từ nầy ám chỉ số lượng dữ kiện (data) có thể truyền tải trong một thời gian cố định. Những Hệ Thống Định Số Hệ Phân Toàn Vụ (ISDN – Integrated Services Digital Networks) được sữ dụng để tránh dị dạng về hình ảnh và âm thanh (image and voice distortion).
Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)
Với những trang thiết bị và nhu liệu điện toán, máy vi tính được dùng để cung ứng những lập trình đối tác (interactive applications) và HTVL.
Trang thiết bị dành cho YKTLVL khác biệt rất nhiều về giá cả, từ vài trăm Dollar để sữ dụng Internet cho đến trên $60,000 cho những hệ thống thượng thặng dùng cho cả phòng. Cái khó khăn khi phỏng định giá cả cho TLTLVL càng trở nên phức tạp hơn vì tính chất năng động của kỹ thuật HTVL.
Khi so sánh phương pháp phỏng vấn trực diện cỗ truyền vớI phương pháp phỏng vấn TLTLVL theo những điều kiện và chẩn đoán khác nhau, các nhà nghiên cứu theo dõi quá trình thử nghiệm những hệ thống TLTLVL cho biết, “Sự gián cách giửa bác sỹ điều trị và bệnh nhân gần như không có ảnh hưởng gì trong những lần trị bệnh.” Từ cuộc thử nghiệm áp dụng những hệ thống TLTLVL đầu tiên, các nhà nghiên cứu “nhận thấy các bệnh nhân và thân quyến của họ tiếp thu rất tốt đối với hình thức truyền thông nầy.”
Những Yếu Tố Thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)
Căn cứ trên những tài liệu phê bình về những hệ thống TLTLVL, năm yếu tố thành công then chốt được mô tả như sau:
1. 1. Thóa đáng (Satisfactory): Những hệ thống TLTLVL phải được thực hiện với những một thiết bị đối tác thân thiện (friendly user interface) và cung ứng những dịch vụ gíup bác sỹ cảm thấy thoảI mái khi sữ dụng.
2. 2. Dễ truy cập (Accessibility): Những hệ thống TLTLVL phảI dễ truy cập trong những vùng nông thôn hay hẻo lánh vớI dảI tần hạn chế.
3. 3. Chất Lượng (Quality): Hình ảnh tốt và không bị trục trặc trong khi phỏng vấn hay tham vấn.
4. 4. An Toàn (Security): Bảo mật dữ kiện, hình ảnh và thông tin của bệnh nhân.
Những yếu tố thành công then chốt nầy sẽ giúp những người quản lý công trình tạo được một kế hoạch công trình tốt, tránh thất bại khi thực hành và triển khai hệ thống TLTLVL. Thực vậy, mọi công tác HTVL muốn thành công cần phải có khả năng làm cho bệnh nhân vui thích với những dịch vụ của mình. Phẩm chất của dự án gồm có: hình ảnh phải tốt, âm thanh rõ, và hệ thống dễ sữ dụng và điều khiển. Nếu những hệ thống HTVL được liên kết với các hệ thống y tế khác và được sữ dụng như nhữn phương tiện trị liệu thì nó cần được đảm bảo sẽ bảo mật những riêng tư của bệnh nhân. Hiệu năng cũng là một yếu tố then chốt khác của các hệ thống HTVL vì hầu hết những Trưởng Phòng Điều Hành (CEO) và Tổng Quản Đốc đều muốn hệ thống phảI hoạt động liên tục trong thời gian hội thoại.
Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)
Đa số các hệ thống TLTLVL đều có một cơ cấu truyền thông hạ tầng hổ trợ kỹ thuật truyền tin nội bộ giửa các máy vi tính (TCP/IP) và trên mạng. Các bác sỹ tâm lý sẻ phỏng vấn bệnh nhân bằng phương pháp trực diện cỗ truyền hay sữ dụng kỹ thuật trên mạng theo ngôn ngữ lập trình .NET, Định trường 3.5 (Framework 3.5), hay Java theo lối hỏi/đáp. Họ có thể thực hiện những báo cáo thẩm định và đề nghị phương án điều trị căn cứ trên những báso cáo nầy. Với đà phát triển mạnh và nhanh của kỹ thuật HTVL, các bác sỹ tâm lý có thể đủ khả năng để tiến hành phỏng vấn bệnh nhân và theo dõi việc điều trị bằng điện thoại di động hay những hệ thống truyền hình có độ rõ cao (HD systems).
Các tiêu chuẩn sữ dụng những hệ thống HTVL được định nghĩa bỡi Ủy Hội Viễn Thông Quốc Tế (ITU) tại Thụy Sỹ. Dưới đây là một số những tiêu chuẩn được các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ sữ dụng:
• • H.320 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại viễn liên có dải tần hẹp (narrow bandwidth) sữ dụng mạch điện xoay chiều như N-ISDN, SW56, các hệ thống đặc dụng (dedicated networks)
• • H.321 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
• • H.323 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật không đảm bào chất lượng (LAN – Local Area Network, Internet, v.v.)
• • H.324 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rất hẹp sữ dụng hệ thống điện thoại thường
• • H.310 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rộng và sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
Phúc Lợi (Benefits)
Khi sữ dụng những hệ thống TLTLVL, bệnh nhân có thể tiết kiệm được thì giờ và tiền bạc vì có thể khám bệnh mà không cần phải đi đến phòng mạch bác sỹ. Sau đây là những thí dụ điển hình về việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania:
“Việc sữ dụng YKTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania giúp giảm thiểu số lượng vận chuyển bệnh nhân bằng máy bay tới Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield. Số lượng bác sỹ TLTLVL tại FMC-Lexington cùng với nghiệp vụ chuyên môn của họ được xem như đã giúp điều trị và theo dõi những bệnh nhân tâm thần hiệu quả hơn. Đối với những bệnh nhân được ổn định và được theo dõi như thế, những khủng hoảng đã tránh được. Khi tâm lý những tù nhân trở nên xáo trộn họ tìm đến ngay các bác sỹ TLTLVL để những người nầy có thể tìm cách nói để xoa dịu họ xuống, nhờ đó chuyển hướng được một cơn khủng hoảng cấp tính và không phải chuyển bệnh nhân đến trại tâm thần tại Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield.”
Ngoài vấn đề tiết kiệm tiền bạc và thì giờ, những hệ thống TLTLVL có thể dùng để huấn luyện y tá và viên chức cải huấn biết cách đối phó với hành vi quá khích của các tù nhân bị bệnh tâm thần trong khi giám sát những hoạt động hằng ngày của họ hầu ngăn ngừa bạo động.
Vấn Đề (Issues)
Vẫn có những vấn đề kỹ thuật trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL. Trước nhất, một số bác sỹ vẫn không muốn ssũ dụng chúng vì họ chưa cảm thấy tụ tin khi ssữ dụng kỹ thuật nầy và một số hệ thống và lập trình hãy còn chưa hoàn toàn dễ sữ dụng, khó khai triển và thực hành. Thứ hai, nếu sữ dụng một hệ thống với dải tần hẹp thì có thể sẽ bị châm trể trong khi phỏng vấn hay tham vấn. Một số hệ thống sữ dụng truyền hình với độ rõ cao (HDTV) sẽ cung ứng hình ảnh chất lượng cao và âm thanh rõ và không bị chậm trể hay trục trặc nếu hoạt động trong hệ nội bộ (LAN/WAN). Tuy nhiên, tốn phí hãy còn rất cao ($20,000 - $60,000 mỗi hệ thống). Kỹ thuật nầy còn đòi hỏi tốn phí để huấn luyện nhân viên vi tính để yểm trợ, bảo trì, và liên kết hệ thống TLTLVL với cơ cấu tin học hạ tầng (iT infrastructure).
Mặc dù những hệ thống TLTLVL còn một số vấn đề kỹ thuật, việc sữ dụng chúng sẽ tiếp tục phát triển trong 10 năm tới. Với giá xang dầu tăng cao, bệnh nhân sẽ thích sữ dụng các hệ thống TLTLVL hơn là đi đến các phòng mạch bác sỹ. Kỹ thuật cũng cho phép bệnh nhân chọn ngày giờ hẹn với bác sỹ tâm lý và họ cũng có thể xem được kết quả thử máu hay các kết quả thử nghiệm khác qua những lập trình vi tính trên mạng. Các bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng có thể sữ dụng những hệ thống nầy để cung ứng dịch vụ tốt hơn cho bệnh nhân của mình và huấn luyện những đồng nghiệp trong cùng ngành. Với công tác chỉ đạo hiệu quả trong qủan trị y tế, bệnh viện, những định chế nghiên cứu, những nhà lập pháp, cơ quan liên bang và tiểu ban, các hệ thống TLTLVL sẽ gia tăng trong các bệnh viện, quận hạt, tiểu bang, quốc gia và ngay cả tại tư gia của chúng ta. Chiều hướng đó sẽ gia tăng truy cập cho các bệnh nhân, thành viên, chuyên gia, bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng.
Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)
Theo một tài liệu của Hiệp Hội Viễn Thông Quốc Tế (Comité Consultatif international Télégraphique et Téléphonique), tiêu chuẩn kỹ thuật H323 được mô tả là một trong những thành tố trọng yếu trong công trình triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng (voice-over iP services). “Tiêu chuẩn H323 được coi là trọng yếu trong việc hổ trợ triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng, và nhận được sữ yểm trợ rộng rãi của các công ty sản xuất thiết bị nhờ vào khả năng đa hệ (interoperability) của nó. Người ta ước tính những hệ thống sữ dụng tiêu chuẩn H323 truyền tải được hàng tỷ phút âm thanh mỗi tháng. H323 cũng được sữ sụng trong các hệ thống HTVL.”
Bên cạnh là cấu trúc của một hệ thống HTVL điển hình dùng cho các hệ thống TLTLVL sữ dụng H323 với nhiều điểm kiểm định (Multiple Control Points).
Hệ thống HTVL hổ trợ điện thoại di động, máy vi tính cá nhân, máy truyền hình độ rõ cao, và những lập trình trên mạng. Bệnh nhân, công ty cung ứng dịch vụ y tế, nhân viên cải huấn có thể vào hệ thống bằng điện thoại di động, hay máy vi tính cá nhân co gắn Webcam (máy thu hình trên máy vi tính) có dịch vụ Internet hay máy truyền hình sữ dụng hệ thống ISDN để tham vấn với bác sỹ tâm lý mà không cần phải mang bệnh nhân tới phòng mạch. Hệ thống sẽ giúp tiết kiệm thì giờ và tiền bạc cho gia đình và cơ quan chính phủ. Bệnh nhân vẫn có thể hưởng được những dịch vụ thích hợp vớI thờI gian chờ đợI ngắn hơn. Ngoài ra, bệnh nhân vẫn có thể hưởng được sự hổ trợ và tham vấn từ bác sỹ ngay cả khi sinh sống trong những miền quê hay nơi hèo lánh hoặc đang đi du lịch bằng cách gởi thông điệp bằng chử trên điện thoại di động.
Bản TiếngAnh
Telemedicine is the use of medical information exchanged from one site to another via electronic communications for the health and education of the patient or healthcare provider and for the purpose of improving patient care. Telemedicine includes consultative, diagnostic, and treatment services. Telepsychiatry has been implemented for over 40 years and uses videoconferencing technology to provide consulting services for patients with mental illness.
Contents
Introduction
Technology
Monitor
Camera
CODEC
Bandwidth
Personal Computer
Critical Success Factors
Infrastructure and Framework
Benefits
Issues
Future Applications
See Also
References
Introduction
The first Telepsychiatry systems were implemented by Wittson in the early 1950s at the Nebraska Psychiatric Institute (NPI). According to “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care “, Mark Moran states, “Most psychiatrists agree that when possible, face-to-face assessment and treatment are optimal. However, they say that Telepsychiatry is a close-enough approximation to make it more than acceptable when the alternative is no access to psychiatric services. “[1] Even though there are still issues related to implementation, quality and some existing barriers for using Telepsychiatry systems, the technology is becoming more and more adopted by psychiatrists, healthcare providers and patients living in rural areas as well as the military.
Then what are Telemedicine and Telepsychiatry? “Telemedicine, of which Telepsychiatry is a specialty, refers generally to the use of any kind of technology to facilitate the practice of medicine across distances—phone, fax, electronic record keeping, e-mail therapies, and use of the Internet to post educational material for patients. But the model that has the most far-reaching and transformative potential is the use of videoteleconferencing (VTC), allowing physicians and patients to see and talk to each other in remote sites using a video camera and television screen.“ [1]And today "Telepsychiatry"—the use of technology to facilitate psychiatric treatment and education across distances—could turn what once seemed like a whimsical fantasy into reality.” [1]
In the previous paragraph, Telemedicine and “Telepsychiatry” have been clearly defined and the most common technology was used for Telepsychiatry is Video Teleconferencing (VTC). The VTC technology had been used and tested in some Telemedicine systems and the experts think “it promises to expand access to psychiatric care, especially in traditionally underserved areas and practice settings” and some think it is the wave of the future," said former APA president Rodrigo Muñoz, M.D. "Telemedicine makes it possible to interview someone who is miles away from you. It is a response to the maldistribution of physicians and psychiatrists, and it is an opportunity to explore the limits of the power of technology."
Technology
Psychiatrists rely heavily on video conferencing technology to interview/consult and examine patient. Figure 1 shows a diagram of typical Telemedicine video conferencing systems in a recent study of a video conferencing project [7]. The diagram illustrates the major components of any Telemedicine/Telepsychiatry systems that are including monitors, cameras, CODEC, a desktop computer, microphones, and speakers.

Monitor
The monitor shows a picture of a local site and the image of the people at the distant site. Rooms can be divided into many units and each unit is 33’’ or larger. A 17’’ desktop monitor is preferred for routine interview.
Camera
The camera is used to capture the image at the local site and send it to the other site. The quality of the lens is very important and wide-angle lens is useful if more than one or two people to be viewed.
CODEC
“The CODEC (coder-decoder) is the heart of the teleconferencing device. It transforms the analog signal(the picture) picked up by a video camera to a digital signal and compresses it for transmission to the distant site; there, another CODEC transforms the digital back to an analog one for viewing the video monitor.”
Bandwidth
The bandwidth refers to the amount data that can be transmitted in a fixed amount of time. Digital ISDN (128Kbps) lines are used to avoid image and voice distortion.
Personal Computer
A desktop computer can be used with hardware and software packages to provide interactive applications and videoconferencing.
“Telemedicine equipment varies widely in cost, from a few hundred dollars for Internet access to $60,000 plus to top range room systems. The difficulty in quoting costs for Telepsychiatry is further complicated by the dynamic nature of the video conferencing technology”. [7]
By comparing the traditional face-to-face interview with the Telepsychiatry interview using the video conferencing technology across the various diagnoses and conditions, the researchers involved in the trial of the implementation of the Telepsychiatry systems said, “The isolation of the therapist from the patients had almost no effect on group sessions”. From the trial of the first implementation of Telepsychiatry systems, researchers “found patients and relatives were very receptive to this form of communication.”
Critical Success Factors
Based on literature review on the existing Telepsychiatry systems, five critical successful factors have been identified as follow:
1) Satisfactory : the Telepsychiatry systems has to be implemented with a friendly user interface and provide the services that makes the psychiatrist feel comfortable with using them
2) Accessibility : Telepsychiatry systems has to be easily access in the rural, isolated areas with limited bandwidth
3) Quality : Good image and no down time during the interview/consultation
4) Security : protect patient’s data/image and information
These Critical Success Factors will help the project managers create a good project plan, avoid failure for their future implementing and deploying Telepsychiatry systems.
Indeed, every successful videoconferencing needs to be able to make users happy with its services. The Quality of the projects like good images, sound needs to be clear and the systems are easy to be used and operate are key factors for successful. If the conferencing systems are integrated with other health care systems and are used as tools to treat patients, it needs to be secured to protect privacy of patients. Performance is also another key factor for conferencing systems because most CEOs and senior management will expect systems up and running without any interruption during their meetings or conferences.
Infrastructure and Framework
Most of the latest Telepsychiatry systems will have a telecommunication infrastructure supporting TCP/IP protocol and internet technology. The psychiatrists will interview their potential clients by traditional way like face to face interview or using web-based application using .Net framework (3.5) or Java technology to click and choose the answer. They can make assessment reports and suggesting treatment plan based on those assessment reports. With the growing strong and fast of video conferencing technology, psychiatrists might be able to conduct interview with their patients and follow up their treatment using cell phone/HD systems.
The standard of using video conferencing systems is defined by International Telecom Union (ITU) based in Geneva, Switzerland. Here are some of the standards used by the manufactures and service providers:
• H.320 is a standard for Narrow-band videoconferencing over circuit-switched networks(N-ISDN, SW56, dedicated networks)
• H.321 is a standard for Narrow-band videoconferencing over ATM and B-ISDN
• H.323 is a standard for Narrow-band videoconferencing over non-guaranteed quality-of-service packet networks (LAN, Internet, etc.)
• H.324 is a standard for Very narrow-band videoconferencing over the general (dial-up) telephone network
•
Benefits
By using Telepsychiatry systems, we can save time and money by allowing patients getting consulting office without going to the doctor’s office. Here is one of the good examples of using Telepsychiatry systems for three Pennsylvania prisons:
“The use of Telemedicine systems for three Pennsylvania prisons helps to reduce number of emergency airlift to Federal Medical Center at Springfield. The availability of psychiatrists at FMC-Lexington, via Telemedicine, and their expertise were thought to result in more effective medication and monitoring of prisoners suffering from psychiatric illnesses. With prisoners, thus stabilized and monitored, crises were avoided. When prisoners became agitated, they had quick access to the remote psychiatrist, who was able to "talk them down," thereby sidetracking a downward spiral and averting a transfer to the psychiatric ward at Federal Medical Center at Springfield.”[6]
Besides saving time and cost, Telepsychiatry systems can be used to train nurses and correctional officers to deal with extreme behavior of mental prisoners while monitoring their daily activities to prevent violence. In this way, Telepsychiatry systems will help save money and time while providing users with a better quality of health care services.
Issues
There are still technical issues with the use of Telepsychiatry systems. First, some doctors still not want to use them because they still not feel comfortable with using technology and some systems and applications are still not quite easy to use, hard to deploy and implementation. Second, if the systems using a system with a low bandwidth, it will cause some delay during the interview or consultation. Some systems using High Definition TV will provide a very high image quality and clear sound with no delay and down time if it is running on the LAN or WAN with the high bandwidth. However, the cost is still high ($20,000-$60,000 per system). It also requires additional cost for training IT personnel for supporting, maintaining, and integrating Telepsychiatry systems with the existing IT infrastructure.
Although Telepsychiatry systems still have some technical issues, their use will continue to grow in the next 10 years. With the rise of oil prices, patients will prefer to get consultation services through the use of video conferencing technology instead of going to the doctor’s office. This will also allow patients to schedule their appointments with psychiatrists and they can also see their blood/medical test results through web based applications. Doctors and psychiatrists can use these systems to provide better services for their patients and help them educate fellow healthcare professionals. With the strong leadership of healthcare administration, hospitals, research institutions, law makers, local and federal agencies, their will be an increase of Telepsychiatry systems implementation in hospitals, counties, states, countries and even our home. This will allow greater access for patients, members, professional personals, doctors and psychiatrists.
Future Applications
According to a paper published by CCITT name “CCITT-50 years of excellent - 1956-2006”, H.323 family as describe as one of the crucial components for developing voice over IP services as follow “The H.323 family of standards has been crucial in fostering the development of new voice-over IP services, winning widespread support from equipment vendors because of the interoperability that it enables. It is estimated that systems using H.323 carry billions of voice minutes each month. H.323 is also widely used in videoconferencing systems.”[8]
Here is the system architecture for a typical video conferencing system for Telepsychiatry systems using Multiple Control Points and using H.323 family of standard in the figure 2 below.

Figure 2: System architecture of a video conferencing system
In the above system, we can see that the videoconferencing supporting mobile phone, PC, HD TV and the web-based applications can run on the desktop computer, mobile phones. Patients/provider/correctional officers can connect to the systems using cell phone (3G network) or computer with web cam using IP network or TV using ISDN network to request consultation from a psychiatrist without bringing mental patients to his/her office. It will help to save money and time for family and government agency and patients can get the appropriate service with less waiting time. Also, patients can still get support and consultation from the psychiatrist even when they live in rural/isolated areas or are traveling via text messaging.
See also
Telemedicine - http://en.wikipedia.org/wiki/Telemedicine
Psychiatry - http://en.wikipedia.org/wiki/Psychiatry
References
[1]. Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care http://pn.psychiatryonline.org/cgi/content/full/39/6/14. .Retrieved on 06/10/08
[2]. ISDN. ISDN Protocols - LAPD | ISDN. Retrieved June 24th, 2008, from http://www.protocols.com/pbook/isdn.htm
[3]. Lawlor, T. LCD projectors, Audio/Video equipment and computers from M Communications. Video Conferencing Gaining Popularity. Retrieved on 06/10/08 from http://www.mcommunications.com/tips/vidConfLaw/.
[4]. Tandberg. Key Considerations for Maximizing - Your Video Architecture: Moving Beyond Point-to-Point Conferencing. July 2005. 13 p.
[5]. Tandberg. Video Conferencing Standards 2.2. D10740. 12 p.
[6]. Telemedicine Averted Costly Transfers to Federal Medical Centers. Retrieved June 16th, 2008, from http://www.ncjrs.gov/Telemedicine/c2c.html.
[7].LeRouge, C.& Garfield, M.J, and Hevner, A.R,”Quality Attributes in Telemedicine Video Conferencing”, Proceedings of the 35th Hawaii International Conference on System Sciences, 2002.
[8]. CCITT-50 years of excellent -1956-2006. Retrieved on 06/16/08 from www.itu.int/ITU-T/50/docs/ITU-T_50.pdf.
Hội Thoại Viễn Liên
Tài Liệu Thuyết Trình của Nguyễn Mạnh Cường
Giáo Sư Đông Yên Lương Tấn Lực phiên dịch
Mục Lục
1. Nội dung chính
2. Định nghĩa tổng quát
3. Lịch sữ hội thoại viễn liên
4. Lý do phát triển của Hội thoại viễn liên
5. Lý do Hội thoại viễn liên không được ưa thích
6. Lượt đồ hệ thống hội thoại viễn liên
7. Tiêu chuẩn các hệ thống hội thoại viễn liên
8. Những thành tố chính của hội thoại viễn liên
9. ISDN and CODEC
10. Phân loại các hệ thống hội thoại viễn liên
11. Những yếu tố thành công trọng yếu
12. Kết luận
1. Nội dung chính của bài thuyết trình nầy đề cập đến định nghĩa khái quát của kỹ thuật hội thảo viễn liên, những thành tố chính của hệ thống, mhững lợi điểm và những yếu tố mấu chốt quyết định sự thành công, và viễn tượng của hội thảo viễn liên.
2. Định nghĩa tổng quát
• Hội thảo viễn liên sữ dụng những phương tiện truyền thông về hình ảnh và âm thanh để nối kết các thành viên tham luận từ những vị trí địa lý khác nhau vì mục đích hội thảo, huấn luyện, và tham vấn.
• Thành phần tham dự có thể gồm hai người tại hai văn phòng khác nhau (một đối một) để mạn đàm thông thưòng hay ba người trở lên từ những ví trí địa lý khác nhau nhằm mục đích hội nghị viễn liên (đa phương).
• Hội thảo viễn liên không những chĩ để truyền đi những hình ảnh và âm thanh của các thành viên, mà còn để chia sẻ những tài liệu, những thông tin bằng hình, và những phương tiện nhu liệu giúp họ cùng làm việc với nhau trên một tài liệu chung trên mạng (whiteboards).
3. Lịch sữ hội thảo viễn liên
• Hội thảo viễn liên được trình bày lần đầu năm 1968. Hệ thống do AT&T khai triển thất bại vì hình ảnh không rõ và kỹ thuật nén hình không hiệu quả (efficient video compression techniques). Kỹ thuật vận hình thông qua hệ thống điện thoại thường.
• Vào những năm thập niên 1980, ra đời những hệ thống điện thoại định số (digital telephony transmission networks). Kỹ thuật nầy truyền tải hình ảnh và âm thanh đã nén với nhịp độ tối thiểu khoảng 128 kilobit mỗi giây. PictureTel sáng chế hệ thống hội thoại viễn liên đầu tiên sữ dụng kỹ thuật định số hệ phân toàn vụ (ISDN – Integrated Services Digital Network) , thay cho hệ thống điện thoại định hình (Analog) dựa trên định lượng và cường độ. Hệ thống hội htoại nầy sau đó được phát triển nhanh trên toàn thế giới.
• Đến thập niên 1990, hội thoại viễn liên dựa trên kỹ thuật Internet được sáng lập với kỹ thuật nén hình hiệu quả, tạo điều kiện hội thoại viễn liên qua các máy điện toán cá nhân. Hệ thống VTC (Videoteleconference) được phát triển với những dịch vụ và nhu liệu miễn phí như NetMeeting, MSN Manager, Yahoo Messenger.
4. Lý do phát triển của Hội thoại viễn liên
• Đàm thoại sống thực
• Đối tác qua đồ hình là thành tố quan trọng của đàm thoại
• Hội thoại viễn liên hiệu quả mà ít tốn kém
• Giảm thiễu những rủi ro về an ninh, đặc biệt đối với những cuộc điều trần, luận tội, ngôn chứng, và những cuộc họp cơ bản
• Không đòi hỏi di chuyển
5. Lý do Hội thoại viễn liên không được ưa thích
• Các thành phần tham dự cảm thấy không thoải mái trước ống kính
• E ngại về kỹ thuật
• Đôi lúc hình ảnh không được tự nhiên vì màn hình bị nháy hay ánh sáng không tự nhiên
• Đôi khi máy hỏng
• Đòi hỏi chuẩn bị hạ tầng
• Tốn phí hãy còn cao (từ 5000-20000)
6. Lượt đồ hệ thống hội thoại viễn liên
• Một hay nhiều thành viên ngồi trong một căn phòng với hệ thống hội thoại viễn liên
• Một máy camera thu hình các thành viên
• Hình ảnh được chuyển hệ và gởi đi theo hệ thống ISDN (hệ thống định số hệ phân toàn vụ)
• Ở đầu bên kia, hình ảnh đó được giải định lại (re-configured) và chiếu lên màn ảnh truyền hình
• Một dải tần cao (high bandwidth) để cung ứng hình ảnh tốt
• Hầu hết các hệ thống sữ dụng đường giây điện thoại T-1 (cable) hay ISDN
7. Tiêu chuẩn dành cho một hệ thống hội thoại viễn liên theo Hiệp Hội Viễn Thông Quốc Tế (ITU – International Telecommunication Union)
• • H.320 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại viễn liên có dải tần hẹp (narrow bandwidth) sữ dụng mạch điện xoay chiều như N-ISDN, SW56, các hệ thống đặc dụng (dedicated networks)
• • H.321 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
• • H.323 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật không đảm bào chất lượng (LAN – Local Area Network, Internet, v.v.)
• • H.324 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rất hẹp sữ dụng hệ thống điện thoại thường
• • H.310 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rộng và sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
8. Những thành tố chính của hội thoại viễn liên
• Camera hay Webcam để thu hình và tiếng
• Màn hình computer hay máy truyền hình (computer monitor or television) để phát hình
• Máy vi âm (micro) để thu âm
• Loa gắn vào hệ thống phát hình hay đường dây điện thoại để phát âm
• Hệ thống điện thoại thường hay định số (analog or digital), hệ thống network địa phương (LAN – Local area network) hay Internet để truyền tải dử kiện
• Bộ phận mã hóa/giải mã (CODEC) để hoán chuyển tín hiệu hình và tiếng giửa dạng định hình và định số (between analog and digital signals).
8. ISDN và CODEC
• • ISDN (Integrated Services Digital Network - hệ thốngđịnh số hệ phân toàn vụ) là một kỹ thuật lập hệ (network protocol) bao gồm những dịch vụ điện thoại định số và truyền tải dữ kiện do các hảng điện thoạiđịa phương cung ứng. ISDN phục tráchđịnh số hoá (digitalization) hệ thống điện thoại để truyền tải âm thanh, dử kiện, tài liệu, đồ hình, âm nhạc, phim hình, và những nguồn tài liệu khác qua đường dây điện thoại.
• • CODEC (coder-decoder – mã hóa và giải mã) là yếu tốthen chốt của các hệ thống hội thoại viễn liên. Bộ phận nầy hoán chuyển những tín hiệu định hình (analog signals) nhận từ camera sang dạng định số (digital) và nén chúng lại để gởi đi. Một bộ phận CODEC ở đầu bên kia sẽ hoán chuyển những tín hiệu trên ngược trở lại dạng định số (analog) đế có thể xem trên màn hình.
9. Phân loại các hệ thống hội thoại viễn liên
• • Sữ dụng Personal Computers (máy điện toán cá nhân): Thiết bị dùng cho hội thoại viễn liên qua máy điện toán cá nhân giúp những người tham gia đối tác ngay từcomputer của mình - với các đặc điểm như: số người hiện diện, đối thoại (chat), âm thanh, hình ảnh, và hợp tác trên mạng - nhờ vậy số nhân viên sữ dụng computer để hội thoại sẽ tăng lên.
• • Sữ dụng Laptops điều hành (Executive Laptops): Một hệthống toàn vẹn gồm một camera có độ rõ nét cao (HD Camera), loa và một màn hình phẳng mặt (flat panel display) có thể rộng gấp hai lần màn hình máy điện toán cá nhân (PC monitor)
• • Sữ dụng văn phòng: Nhiều thành viên trong một văn phòng đối tác với những thành viên khác trong một phòng khác
• • Sữ dụng độ rỏ nét cao (High Definition): có thể cung ứng độ rỏ của hình gấp hai lần theo chiều ngang và chiều dọc và phẩm chất gần 10 lần so với các hệ thống cũ,nếu có dải tầng thích hợp (appropriate bandwidth)
10. Những yếu tố thành công trọng yếu
• • Thoả mản những người tham dự
• • Dễ tiếp cận
• • Chất lượng cao
• • An toàn
• • Hiệu quả cao
11. Kết Luận
• • Cơ quan nghiên cứu Wainhouse tin rằng khả năng to lớn mà Internet2 cung ứng sẽ có một tác động ưu thế trên công tác giáo dục viễn liên, và đặc biệt trên việc sữ dụng truyền hình đối tác hai chiều trong lớp học
• • Chúng ta tin rằng các công ty có thể bắt đầu gia tăng việc sữ dụng hội thoại viễn liên để ứng phó với điều kiện di chuyển mỗi ngày một khó khăn hơn do sự tăng giá vé máy bay và nơi ăn chốn ở.
Nguyễn Mạnh Cường
Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là một bộ phận của Y Khoa Tri Liệu Viễn Liên (Telemedicine) - YKTLVL. Khoa học nầy sữ dụng thông tin y học trao đổi giửa hai địa bàn thông qua những phương tiện truyền thông điện tữ liên quan đến sức khỏe và giáo dục bệnh nhân hay cơ quan cung ứng dịch vụ y tế và nhằm cải thiện công tác chăm sóc bệnh nhân. Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên bao gồm các dịch vụ tư vấn, chẩn đoán, và trị liệu. TLTLVL đã được thực hiện trên 40 năm nay và sữ dụng kỹ thuật Hội thoại viễn liên (Videoconferencing) để cung ứng dịch vụ tư vấn cho bệnh nhân mắc bệnh tâm lý.
Mục Lục
Tổng Quát
Kỹ Thuật (Technolgy)
Màn Hình (Monitor)
Máy Thu Hình (Camera)
Bộ Phận Mật Mã (CODEC)
Dải Tần (Bandwidth)
Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)
Những Yếu Tố thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)
Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)
Phúc Lợi (Benefits)
Vấn Đề (Issues)
Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)
Tổng Quát
Các hệ thống TLTLVL do Wittson thiết lập vào đầu thập niên 1950 tạI TâmLý Học Viện Nebraska (NPI). Trong tài liệu nhan đề “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatry Care”, Mark Moran cho biết, “Hầu hết các bác sỹ tâm lý đều đồng ý rằng nếu điều kiện cho phép thì việc chẩn đoán và trị liệu trực diện vẫn tốt hơn hết. Tuy nhiên họ nói rằng TLTLVL là một phỏng đoán đủ chính xác để mọi người chấp nhận ngay khi phương pháp trị liệu thường thiếu những dịch vụ về tâm lý.” Mặc dù vẫn còn những vấn đề liên quan đến phương thức thực hiện, phẩm chất và một số những trở ngạI hiện có trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL, kỹ thuật nầy đang càng ngày càng được chấp nhận hơn đới với các bác sỹ tâm lý, các công ty cung ứng dịch vụ y tế và những bệnh nhân ở những vùng quê cũng như quân đội.
Vậy thì Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên (YKTLVL) và Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là gì?
YKTLVL, trong đó có TLTLVL, thường ám chỉ bất kỳ dạng kỹ thuật nào có thể giúp chửa trị y khoa từ hai vị trí địa lý khác nhau - Điện thoại, Fax, lưu trử hồ sơ điện tữ (electronic record keeping), email, Internet để phổ biến tài liệu hướng dẩn cho bệnh nhân. Nhưng kỹ thuật có tiềm năng xa tầm và thích ứng cao nhất là Hội Thoại Viễn Liên (Videconferencing), giúp bác sỹ và bệnh nhân nhìn thấy nhau và đối thoại vớI nhau từ những địa bàn xa qua một máy thu hình và một màn ảnh truyền hình. Và ngày nay, TLTLVL - sữ dụng kỹ thuật để trị liệu và giáo dục tâm lý từ những vị trí địa lý xa nhau – có thể biến thành sự thật những gì trước dây được coi là ngông cuồng.
Trên đay hai từ YKTLVL và TLTLVL đả dưọc định nghĩa rõ ràng và kỹ thuật thông thường nhất dùng cho TLTLVL là Hội thoại viễn liên (Videconferencing) - HTVL. HTVL đã được sữ dụng và thử nghiệm trong một số hệ thống YKTLVL và các nhà chuyên viên nghĩ rằng “TLTLVL hứa hẹn sẽ bành trướng dịch dụ điều trị tâm lý, đặc biệt trong những vùng xưa nay vốn thiếu những dịch vụ nầy.” Và một số nghĩ rằng “đó là trào lưu của tương lai” (Rodrigo Muñoz, M.D, Chủ tịch Hiệp Hội Tâm Lý Hoa Kỳ). YKTLVL tạo điều kiện phỏng vấn bệnh nhân ở cách xa hàng dặm. Đó là một một ứng phó trước tình trạng phân phối không y sỹ đồng đều, và là cơ hội để thăm dò giới hạn hiệu năng của khoa học kỹ thuật.
Kỹ Thuật (Technology)
Các Bác sỹ Tâm lý nhờ vào kỹ thuật HTVL để phỏng vấn, cố vấn và chẩn đoán bệnh nhân. Hình 1 tượng trưng một biểu đồ của những hệ thống HTVL điển hình dùng cho YKTLVL trong một tài liệu nghiên cứu gần đây về HTVL. Biểu đồ minh họa những thành tố chính của các hệ thống YKTLVL/TLTLVL, gồm có màn hình, máy thu hình, bộ phận mật mã, máy vi tính, vi âm, và loa phóng thanh.
Màn Hình (Monitor)
Màn hình chiếu lên hình ảnh hoạt trường và những ngườI liên hệ ở đầu bên kia. Các phòng có thể chia thành nhiêu đơn vị và chiều dài mỗI đơn vị tốI thiểu là 33 feet. Một màn hình vi tính 17 inch là thích hợp nhất cho những cuộc phỏng vấn thường lệ.
Máy Thu Hình (Camera)
Máy thu hình dùng để thu những hình ảnh tạI hoạt trường và gởI hình qua đầu bên kia. Chất lượng của lăng kính rất quan trọng và những lăng kính có hoành độ rộng (wide-angle lens) rất hữu ích khi hoạt trường có từ hai ngườI trở lên.
Bộ Phận Mật Mã (CODEC)
Bộ phận nầy là đầu nảo của hệ thống HTVL, giúp chuyển những tín hiệu định hình (analog signals) mà máy thu hình nhận được sang tín hiệu định số (digital signals) và thu nén chúng lại (compress) trước khi truyền tải sang bên kia. Ở đầu bên kia, một bộ phận tương tự chuyển những tín hiệu ngược trở lại dạng định số để có thể xem được trên màn hình.
Dải Tần (Bandwidth)
Từ nầy ám chỉ số lượng dữ kiện (data) có thể truyền tải trong một thời gian cố định. Những Hệ Thống Định Số Hệ Phân Toàn Vụ (ISDN – Integrated Services Digital Networks) được sữ dụng để tránh dị dạng về hình ảnh và âm thanh (image and voice distortion).
Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)
Với những trang thiết bị và nhu liệu điện toán, máy vi tính được dùng để cung ứng những lập trình đối tác (interactive applications) và HTVL.
Trang thiết bị dành cho YKTLVL khác biệt rất nhiều về giá cả, từ vài trăm Dollar để sữ dụng Internet cho đến trên $60,000 cho những hệ thống thượng thặng dùng cho cả phòng. Cái khó khăn khi phỏng định giá cả cho TLTLVL càng trở nên phức tạp hơn vì tính chất năng động của kỹ thuật HTVL.
Khi so sánh phương pháp phỏng vấn trực diện cỗ truyền vớI phương pháp phỏng vấn TLTLVL theo những điều kiện và chẩn đoán khác nhau, các nhà nghiên cứu theo dõi quá trình thử nghiệm những hệ thống TLTLVL cho biết, “Sự gián cách giửa bác sỹ điều trị và bệnh nhân gần như không có ảnh hưởng gì trong những lần trị bệnh.” Từ cuộc thử nghiệm áp dụng những hệ thống TLTLVL đầu tiên, các nhà nghiên cứu “nhận thấy các bệnh nhân và thân quyến của họ tiếp thu rất tốt đối với hình thức truyền thông nầy.”
Những Yếu Tố Thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)
Căn cứ trên những tài liệu phê bình về những hệ thống TLTLVL, năm yếu tố thành công then chốt được mô tả như sau:
1. 1. Thóa đáng (Satisfactory): Những hệ thống TLTLVL phải được thực hiện với những một thiết bị đối tác thân thiện (friendly user interface) và cung ứng những dịch vụ gíup bác sỹ cảm thấy thoảI mái khi sữ dụng.
2. 2. Dễ truy cập (Accessibility): Những hệ thống TLTLVL phảI dễ truy cập trong những vùng nông thôn hay hẻo lánh vớI dảI tần hạn chế.
3. 3. Chất Lượng (Quality): Hình ảnh tốt và không bị trục trặc trong khi phỏng vấn hay tham vấn.
4. 4. An Toàn (Security): Bảo mật dữ kiện, hình ảnh và thông tin của bệnh nhân.
Những yếu tố thành công then chốt nầy sẽ giúp những người quản lý công trình tạo được một kế hoạch công trình tốt, tránh thất bại khi thực hành và triển khai hệ thống TLTLVL. Thực vậy, mọi công tác HTVL muốn thành công cần phải có khả năng làm cho bệnh nhân vui thích với những dịch vụ của mình. Phẩm chất của dự án gồm có: hình ảnh phải tốt, âm thanh rõ, và hệ thống dễ sữ dụng và điều khiển. Nếu những hệ thống HTVL được liên kết với các hệ thống y tế khác và được sữ dụng như nhữn phương tiện trị liệu thì nó cần được đảm bảo sẽ bảo mật những riêng tư của bệnh nhân. Hiệu năng cũng là một yếu tố then chốt khác của các hệ thống HTVL vì hầu hết những Trưởng Phòng Điều Hành (CEO) và Tổng Quản Đốc đều muốn hệ thống phảI hoạt động liên tục trong thời gian hội thoại.
Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)
Đa số các hệ thống TLTLVL đều có một cơ cấu truyền thông hạ tầng hổ trợ kỹ thuật truyền tin nội bộ giửa các máy vi tính (TCP/IP) và trên mạng. Các bác sỹ tâm lý sẻ phỏng vấn bệnh nhân bằng phương pháp trực diện cỗ truyền hay sữ dụng kỹ thuật trên mạng theo ngôn ngữ lập trình .NET, Định trường 3.5 (Framework 3.5), hay Java theo lối hỏi/đáp. Họ có thể thực hiện những báo cáo thẩm định và đề nghị phương án điều trị căn cứ trên những báso cáo nầy. Với đà phát triển mạnh và nhanh của kỹ thuật HTVL, các bác sỹ tâm lý có thể đủ khả năng để tiến hành phỏng vấn bệnh nhân và theo dõi việc điều trị bằng điện thoại di động hay những hệ thống truyền hình có độ rõ cao (HD systems).
Các tiêu chuẩn sữ dụng những hệ thống HTVL được định nghĩa bỡi Ủy Hội Viễn Thông Quốc Tế (ITU) tại Thụy Sỹ. Dưới đây là một số những tiêu chuẩn được các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ sữ dụng:
• • H.320 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại viễn liên có dải tần hẹp (narrow bandwidth) sữ dụng mạch điện xoay chiều như N-ISDN, SW56, các hệ thống đặc dụng (dedicated networks)
• • H.321 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
• • H.323 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật không đảm bào chất lượng (LAN – Local Area Network, Internet, v.v.)
• • H.324 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rất hẹp sữ dụng hệ thống điện thoại thường
• • H.310 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rộng và sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
Phúc Lợi (Benefits)
Khi sữ dụng những hệ thống TLTLVL, bệnh nhân có thể tiết kiệm được thì giờ và tiền bạc vì có thể khám bệnh mà không cần phải đi đến phòng mạch bác sỹ. Sau đây là những thí dụ điển hình về việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania:
“Việc sữ dụng YKTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania giúp giảm thiểu số lượng vận chuyển bệnh nhân bằng máy bay tới Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield. Số lượng bác sỹ TLTLVL tại FMC-Lexington cùng với nghiệp vụ chuyên môn của họ được xem như đã giúp điều trị và theo dõi những bệnh nhân tâm thần hiệu quả hơn. Đối với những bệnh nhân được ổn định và được theo dõi như thế, những khủng hoảng đã tránh được. Khi tâm lý những tù nhân trở nên xáo trộn họ tìm đến ngay các bác sỹ TLTLVL để những người nầy có thể tìm cách nói để xoa dịu họ xuống, nhờ đó chuyển hướng được một cơn khủng hoảng cấp tính và không phải chuyển bệnh nhân đến trại tâm thần tại Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield.”
Ngoài vấn đề tiết kiệm tiền bạc và thì giờ, những hệ thống TLTLVL có thể dùng để huấn luyện y tá và viên chức cải huấn biết cách đối phó với hành vi quá khích của các tù nhân bị bệnh tâm thần trong khi giám sát những hoạt động hằng ngày của họ hầu ngăn ngừa bạo động.
Vấn Đề (Issues)
Vẫn có những vấn đề kỹ thuật trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL. Trước nhất, một số bác sỹ vẫn không muốn ssũ dụng chúng vì họ chưa cảm thấy tụ tin khi ssữ dụng kỹ thuật nầy và một số hệ thống và lập trình hãy còn chưa hoàn toàn dễ sữ dụng, khó khai triển và thực hành. Thứ hai, nếu sữ dụng một hệ thống với dải tần hẹp thì có thể sẽ bị châm trể trong khi phỏng vấn hay tham vấn. Một số hệ thống sữ dụng truyền hình với độ rõ cao (HDTV) sẽ cung ứng hình ảnh chất lượng cao và âm thanh rõ và không bị chậm trể hay trục trặc nếu hoạt động trong hệ nội bộ (LAN/WAN). Tuy nhiên, tốn phí hãy còn rất cao ($20,000 - $60,000 mỗi hệ thống). Kỹ thuật nầy còn đòi hỏi tốn phí để huấn luyện nhân viên vi tính để yểm trợ, bảo trì, và liên kết hệ thống TLTLVL với cơ cấu tin học hạ tầng (iT infrastructure).
Mặc dù những hệ thống TLTLVL còn một số vấn đề kỹ thuật, việc sữ dụng chúng sẽ tiếp tục phát triển trong 10 năm tới. Với giá xang dầu tăng cao, bệnh nhân sẽ thích sữ dụng các hệ thống TLTLVL hơn là đi đến các phòng mạch bác sỹ. Kỹ thuật cũng cho phép bệnh nhân chọn ngày giờ hẹn với bác sỹ tâm lý và họ cũng có thể xem được kết quả thử máu hay các kết quả thử nghiệm khác qua những lập trình vi tính trên mạng. Các bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng có thể sữ dụng những hệ thống nầy để cung ứng dịch vụ tốt hơn cho bệnh nhân của mình và huấn luyện những đồng nghiệp trong cùng ngành. Với công tác chỉ đạo hiệu quả trong qủan trị y tế, bệnh viện, những định chế nghiên cứu, những nhà lập pháp, cơ quan liên bang và tiểu ban, các hệ thống TLTLVL sẽ gia tăng trong các bệnh viện, quận hạt, tiểu bang, quốc gia và ngay cả tại tư gia của chúng ta. Chiều hướng đó sẽ gia tăng truy cập cho các bệnh nhân, thành viên, chuyên gia, bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng.
Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)
Theo một tài liệu của Hiệp Hội Viễn Thông Quốc Tế (Comité Consultatif international Télégraphique et Téléphonique), tiêu chuẩn kỹ thuật H323 được mô tả là một trong những thành tố trọng yếu trong công trình triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng (voice-over iP services). “Tiêu chuẩn H323 được coi là trọng yếu trong việc hổ trợ triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng, và nhận được sữ yểm trợ rộng rãi của các công ty sản xuất thiết bị nhờ vào khả năng đa hệ (interoperability) của nó. Người ta ước tính những hệ thống sữ dụng tiêu chuẩn H323 truyền tải được hàng tỷ phút âm thanh mỗi tháng. H323 cũng được sữ sụng trong các hệ thống HTVL.”
Bên cạnh là cấu trúc của một hệ thống HTVL điển hình dùng cho các hệ thống TLTLVL sữ dụng H323 với nhiều điểm kiểm định (Multiple Control Points).
Hệ thống HTVL hổ trợ điện thoại di động, máy vi tính cá nhân, máy truyền hình độ rõ cao, và những lập trình trên mạng. Bệnh nhân, công ty cung ứng dịch vụ y tế, nhân viên cải huấn có thể vào hệ thống bằng điện thoại di động, hay máy vi tính cá nhân co gắn Webcam (máy thu hình trên máy vi tính) có dịch vụ Internet hay máy truyền hình sữ dụng hệ thống ISDN để tham vấn với bác sỹ tâm lý mà không cần phải mang bệnh nhân tới phòng mạch. Hệ thống sẽ giúp tiết kiệm thì giờ và tiền bạc cho gia đình và cơ quan chính phủ. Bệnh nhân vẫn có thể hưởng được những dịch vụ thích hợp vớI thờI gian chờ đợI ngắn hơn. Ngoài ra, bệnh nhân vẫn có thể hưởng được sự hổ trợ và tham vấn từ bác sỹ ngay cả khi sinh sống trong những miền quê hay nơi hèo lánh hoặc đang đi du lịch bằng cách gởi thông điệp bằng chử trên điện thoại di động.
Bản TiếngAnh
Telemedicine is the use of medical information exchanged from one site to another via electronic communications for the health and education of the patient or healthcare provider and for the purpose of improving patient care. Telemedicine includes consultative, diagnostic, and treatment services. Telepsychiatry has been implemented for over 40 years and uses videoconferencing technology to provide consulting services for patients with mental illness.
Contents
Introduction
Technology
Monitor
Camera
CODEC
Bandwidth
Personal Computer
Critical Success Factors
Infrastructure and Framework
Benefits
Issues
Future Applications
See Also
References
Introduction
The first Telepsychiatry systems were implemented by Wittson in the early 1950s at the Nebraska Psychiatric Institute (NPI). According to “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care “, Mark Moran states, “Most psychiatrists agree that when possible, face-to-face assessment and treatment are optimal. However, they say that Telepsychiatry is a close-enough approximation to make it more than acceptable when the alternative is no access to psychiatric services. “[1] Even though there are still issues related to implementation, quality and some existing barriers for using Telepsychiatry systems, the technology is becoming more and more adopted by psychiatrists, healthcare providers and patients living in rural areas as well as the military.
Then what are Telemedicine and Telepsychiatry? “Telemedicine, of which Telepsychiatry is a specialty, refers generally to the use of any kind of technology to facilitate the practice of medicine across distances—phone, fax, electronic record keeping, e-mail therapies, and use of the Internet to post educational material for patients. But the model that has the most far-reaching and transformative potential is the use of videoteleconferencing (VTC), allowing physicians and patients to see and talk to each other in remote sites using a video camera and television screen.“ [1]And today "Telepsychiatry"—the use of technology to facilitate psychiatric treatment and education across distances—could turn what once seemed like a whimsical fantasy into reality.” [1]
In the previous paragraph, Telemedicine and “Telepsychiatry” have been clearly defined and the most common technology was used for Telepsychiatry is Video Teleconferencing (VTC). The VTC technology had been used and tested in some Telemedicine systems and the experts think “it promises to expand access to psychiatric care, especially in traditionally underserved areas and practice settings” and some think it is the wave of the future," said former APA president Rodrigo Muñoz, M.D. "Telemedicine makes it possible to interview someone who is miles away from you. It is a response to the maldistribution of physicians and psychiatrists, and it is an opportunity to explore the limits of the power of technology."
Technology
Psychiatrists rely heavily on video conferencing technology to interview/consult and examine patient. Figure 1 shows a diagram of typical Telemedicine video conferencing systems in a recent study of a video conferencing project [7]. The diagram illustrates the major components of any Telemedicine/Telepsychiatry systems that are including monitors, cameras, CODEC, a desktop computer, microphones, and speakers.

Monitor
The monitor shows a picture of a local site and the image of the people at the distant site. Rooms can be divided into many units and each unit is 33’’ or larger. A 17’’ desktop monitor is preferred for routine interview.
Camera
The camera is used to capture the image at the local site and send it to the other site. The quality of the lens is very important and wide-angle lens is useful if more than one or two people to be viewed.
CODEC
“The CODEC (coder-decoder) is the heart of the teleconferencing device. It transforms the analog signal(the picture) picked up by a video camera to a digital signal and compresses it for transmission to the distant site; there, another CODEC transforms the digital back to an analog one for viewing the video monitor.”
Bandwidth
The bandwidth refers to the amount data that can be transmitted in a fixed amount of time. Digital ISDN (128Kbps) lines are used to avoid image and voice distortion.
Personal Computer
A desktop computer can be used with hardware and software packages to provide interactive applications and videoconferencing.
“Telemedicine equipment varies widely in cost, from a few hundred dollars for Internet access to $60,000 plus to top range room systems. The difficulty in quoting costs for Telepsychiatry is further complicated by the dynamic nature of the video conferencing technology”. [7]
By comparing the traditional face-to-face interview with the Telepsychiatry interview using the video conferencing technology across the various diagnoses and conditions, the researchers involved in the trial of the implementation of the Telepsychiatry systems said, “The isolation of the therapist from the patients had almost no effect on group sessions”. From the trial of the first implementation of Telepsychiatry systems, researchers “found patients and relatives were very receptive to this form of communication.”
Critical Success Factors
Based on literature review on the existing Telepsychiatry systems, five critical successful factors have been identified as follow:
1) Satisfactory : the Telepsychiatry systems has to be implemented with a friendly user interface and provide the services that makes the psychiatrist feel comfortable with using them
2) Accessibility : Telepsychiatry systems has to be easily access in the rural, isolated areas with limited bandwidth
3) Quality : Good image and no down time during the interview/consultation
4) Security : protect patient’s data/image and information
These Critical Success Factors will help the project managers create a good project plan, avoid failure for their future implementing and deploying Telepsychiatry systems.
Indeed, every successful videoconferencing needs to be able to make users happy with its services. The Quality of the projects like good images, sound needs to be clear and the systems are easy to be used and operate are key factors for successful. If the conferencing systems are integrated with other health care systems and are used as tools to treat patients, it needs to be secured to protect privacy of patients. Performance is also another key factor for conferencing systems because most CEOs and senior management will expect systems up and running without any interruption during their meetings or conferences.
Infrastructure and Framework
Most of the latest Telepsychiatry systems will have a telecommunication infrastructure supporting TCP/IP protocol and internet technology. The psychiatrists will interview their potential clients by traditional way like face to face interview or using web-based application using .Net framework (3.5) or Java technology to click and choose the answer. They can make assessment reports and suggesting treatment plan based on those assessment reports. With the growing strong and fast of video conferencing technology, psychiatrists might be able to conduct interview with their patients and follow up their treatment using cell phone/HD systems.
The standard of using video conferencing systems is defined by International Telecom Union (ITU) based in Geneva, Switzerland. Here are some of the standards used by the manufactures and service providers:
• H.320 is a standard for Narrow-band videoconferencing over circuit-switched networks(N-ISDN, SW56, dedicated networks)
• H.321 is a standard for Narrow-band videoconferencing over ATM and B-ISDN
• H.323 is a standard for Narrow-band videoconferencing over non-guaranteed quality-of-service packet networks (LAN, Internet, etc.)
• H.324 is a standard for Very narrow-band videoconferencing over the general (dial-up) telephone network
•
Benefits
By using Telepsychiatry systems, we can save time and money by allowing patients getting consulting office without going to the doctor’s office. Here is one of the good examples of using Telepsychiatry systems for three Pennsylvania prisons:
“The use of Telemedicine systems for three Pennsylvania prisons helps to reduce number of emergency airlift to Federal Medical Center at Springfield. The availability of psychiatrists at FMC-Lexington, via Telemedicine, and their expertise were thought to result in more effective medication and monitoring of prisoners suffering from psychiatric illnesses. With prisoners, thus stabilized and monitored, crises were avoided. When prisoners became agitated, they had quick access to the remote psychiatrist, who was able to "talk them down," thereby sidetracking a downward spiral and averting a transfer to the psychiatric ward at Federal Medical Center at Springfield.”[6]
Besides saving time and cost, Telepsychiatry systems can be used to train nurses and correctional officers to deal with extreme behavior of mental prisoners while monitoring their daily activities to prevent violence. In this way, Telepsychiatry systems will help save money and time while providing users with a better quality of health care services.
Issues
There are still technical issues with the use of Telepsychiatry systems. First, some doctors still not want to use them because they still not feel comfortable with using technology and some systems and applications are still not quite easy to use, hard to deploy and implementation. Second, if the systems using a system with a low bandwidth, it will cause some delay during the interview or consultation. Some systems using High Definition TV will provide a very high image quality and clear sound with no delay and down time if it is running on the LAN or WAN with the high bandwidth. However, the cost is still high ($20,000-$60,000 per system). It also requires additional cost for training IT personnel for supporting, maintaining, and integrating Telepsychiatry systems with the existing IT infrastructure.
Although Telepsychiatry systems still have some technical issues, their use will continue to grow in the next 10 years. With the rise of oil prices, patients will prefer to get consultation services through the use of video conferencing technology instead of going to the doctor’s office. This will also allow patients to schedule their appointments with psychiatrists and they can also see their blood/medical test results through web based applications. Doctors and psychiatrists can use these systems to provide better services for their patients and help them educate fellow healthcare professionals. With the strong leadership of healthcare administration, hospitals, research institutions, law makers, local and federal agencies, their will be an increase of Telepsychiatry systems implementation in hospitals, counties, states, countries and even our home. This will allow greater access for patients, members, professional personals, doctors and psychiatrists.
Future Applications
According to a paper published by CCITT name “CCITT-50 years of excellent - 1956-2006”, H.323 family as describe as one of the crucial components for developing voice over IP services as follow “The H.323 family of standards has been crucial in fostering the development of new voice-over IP services, winning widespread support from equipment vendors because of the interoperability that it enables. It is estimated that systems using H.323 carry billions of voice minutes each month. H.323 is also widely used in videoconferencing systems.”[8]
Here is the system architecture for a typical video conferencing system for Telepsychiatry systems using Multiple Control Points and using H.323 family of standard in the figure 2 below.

Figure 2: System architecture of a video conferencing system
In the above system, we can see that the videoconferencing supporting mobile phone, PC, HD TV and the web-based applications can run on the desktop computer, mobile phones. Patients/provider/correctional officers can connect to the systems using cell phone (3G network) or computer with web cam using IP network or TV using ISDN network to request consultation from a psychiatrist without bringing mental patients to his/her office. It will help to save money and time for family and government agency and patients can get the appropriate service with less waiting time. Also, patients can still get support and consultation from the psychiatrist even when they live in rural/isolated areas or are traveling via text messaging.
See also
Telemedicine - http://en.wikipedia.org/wiki/Telemedicine
Psychiatry - http://en.wikipedia.org/wiki/Psychiatry
References
[1]. Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care http://pn.psychiatryonline.org/cgi/content/full/39/6/14. .Retrieved on 06/10/08
[2]. ISDN. ISDN Protocols - LAPD | ISDN. Retrieved June 24th, 2008, from http://www.protocols.com/pbook/isdn.htm
[3]. Lawlor, T. LCD projectors, Audio/Video equipment and computers from M Communications. Video Conferencing Gaining Popularity. Retrieved on 06/10/08 from http://www.mcommunications.com/tips/vidConfLaw/.
[4]. Tandberg. Key Considerations for Maximizing - Your Video Architecture: Moving Beyond Point-to-Point Conferencing. July 2005. 13 p.
[5]. Tandberg. Video Conferencing Standards 2.2. D10740. 12 p.
[6]. Telemedicine Averted Costly Transfers to Federal Medical Centers. Retrieved June 16th, 2008, from http://www.ncjrs.gov/Telemedicine/c2c.html.
[7].LeRouge, C.& Garfield, M.J, and Hevner, A.R,”Quality Attributes in Telemedicine Video Conferencing”, Proceedings of the 35th Hawaii International Conference on System Sciences, 2002.
[8]. CCITT-50 years of excellent -1956-2006. Retrieved on 06/16/08 from www.itu.int/ITU-T/50/docs/ITU-T_50.pdf.
Giáo Sư Đông Yên Lương Tấn Lực phiên dịch
Mục Lục
1. Nội dung chính
2. Định nghĩa tổng quát
3. Lịch sữ hội thoại viễn liên
4. Lý do phát triển của Hội thoại viễn liên
5. Lý do Hội thoại viễn liên không được ưa thích
6. Lượt đồ hệ thống hội thoại viễn liên
7. Tiêu chuẩn các hệ thống hội thoại viễn liên
8. Những thành tố chính của hội thoại viễn liên
9. ISDN and CODEC
10. Phân loại các hệ thống hội thoại viễn liên
11. Những yếu tố thành công trọng yếu
12. Kết luận
1. Nội dung chính của bài thuyết trình nầy đề cập đến định nghĩa khái quát của kỹ thuật hội thảo viễn liên, những thành tố chính của hệ thống, mhững lợi điểm và những yếu tố mấu chốt quyết định sự thành công, và viễn tượng của hội thảo viễn liên.
2. Định nghĩa tổng quát
• Hội thảo viễn liên sữ dụng những phương tiện truyền thông về hình ảnh và âm thanh để nối kết các thành viên tham luận từ những vị trí địa lý khác nhau vì mục đích hội thảo, huấn luyện, và tham vấn.
• Thành phần tham dự có thể gồm hai người tại hai văn phòng khác nhau (một đối một) để mạn đàm thông thưòng hay ba người trở lên từ những ví trí địa lý khác nhau nhằm mục đích hội nghị viễn liên (đa phương).
• Hội thảo viễn liên không những chĩ để truyền đi những hình ảnh và âm thanh của các thành viên, mà còn để chia sẻ những tài liệu, những thông tin bằng hình, và những phương tiện nhu liệu giúp họ cùng làm việc với nhau trên một tài liệu chung trên mạng (whiteboards).
3. Lịch sữ hội thảo viễn liên
• Hội thảo viễn liên được trình bày lần đầu năm 1968. Hệ thống do AT&T khai triển thất bại vì hình ảnh không rõ và kỹ thuật nén hình không hiệu quả (efficient video compression techniques). Kỹ thuật vận hình thông qua hệ thống điện thoại thường.
• Vào những năm thập niên 1980, ra đời những hệ thống điện thoại định số (digital telephony transmission networks). Kỹ thuật nầy truyền tải hình ảnh và âm thanh đã nén với nhịp độ tối thiểu khoảng 128 kilobit mỗi giây. PictureTel sáng chế hệ thống hội thoại viễn liên đầu tiên sữ dụng kỹ thuật định số hệ phân toàn vụ (ISDN – Integrated Services Digital Network) , thay cho hệ thống điện thoại định hình (Analog) dựa trên định lượng và cường độ. Hệ thống hội htoại nầy sau đó được phát triển nhanh trên toàn thế giới.
• Đến thập niên 1990, hội thoại viễn liên dựa trên kỹ thuật Internet được sáng lập với kỹ thuật nén hình hiệu quả, tạo điều kiện hội thoại viễn liên qua các máy điện toán cá nhân. Hệ thống VTC (Videoteleconference) được phát triển với những dịch vụ và nhu liệu miễn phí như NetMeeting, MSN Manager, Yahoo Messenger.
4. Lý do phát triển của Hội thoại viễn liên
• Đàm thoại sống thực
• Đối tác qua đồ hình là thành tố quan trọng của đàm thoại
• Hội thoại viễn liên hiệu quả mà ít tốn kém
• Giảm thiễu những rủi ro về an ninh, đặc biệt đối với những cuộc điều trần, luận tội, ngôn chứng, và những cuộc họp cơ bản
• Không đòi hỏi di chuyển
5. Lý do Hội thoại viễn liên không được ưa thích
• Các thành phần tham dự cảm thấy không thoải mái trước ống kính
• E ngại về kỹ thuật
• Đôi lúc hình ảnh không được tự nhiên vì màn hình bị nháy hay ánh sáng không tự nhiên
• Đôi khi máy hỏng
• Đòi hỏi chuẩn bị hạ tầng
• Tốn phí hãy còn cao (từ 5000-20000)
6. Lượt đồ hệ thống hội thoại viễn liên
• Một hay nhiều thành viên ngồi trong một căn phòng với hệ thống hội thoại viễn liên
• Một máy camera thu hình các thành viên
• Hình ảnh được chuyển hệ và gởi đi theo hệ thống ISDN (hệ thống định số hệ phân toàn vụ)
• Ở đầu bên kia, hình ảnh đó được giải định lại (re-configured) và chiếu lên màn ảnh truyền hình
• Một dải tần cao (high bandwidth) để cung ứng hình ảnh tốt
• Hầu hết các hệ thống sữ dụng đường giây điện thoại T-1 (cable) hay ISDN
7. Tiêu chuẩn dành cho một hệ thống hội thoại viễn liên theo Hiệp Hội Viễn Thông Quốc Tế (ITU – International Telecommunication Union)
• • H.320 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại viễn liên có dải tần hẹp (narrow bandwidth) sữ dụng mạch điện xoay chiều như N-ISDN, SW56, các hệ thống đặc dụng (dedicated networks)
• • H.321 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
• • H.323 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật không đảm bào chất lượng (LAN – Local Area Network, Internet, v.v.)
• • H.324 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rất hẹp sữ dụng hệ thống điện thoại thường
• • H.310 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rộng và sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
8. Những thành tố chính của hội thoại viễn liên
• Camera hay Webcam để thu hình và tiếng
• Màn hình computer hay máy truyền hình (computer monitor or television) để phát hình
• Máy vi âm (micro) để thu âm
• Loa gắn vào hệ thống phát hình hay đường dây điện thoại để phát âm
• Hệ thống điện thoại thường hay định số (analog or digital), hệ thống network địa phương (LAN – Local area network) hay Internet để truyền tải dử kiện
• Bộ phận mã hóa/giải mã (CODEC) để hoán chuyển tín hiệu hình và tiếng giửa dạng định hình và định số (between analog and digital signals).
8. ISDN và CODEC
• • ISDN (Integrated Services Digital Network - hệ thốngđịnh số hệ phân toàn vụ) là một kỹ thuật lập hệ (network protocol) bao gồm những dịch vụ điện thoại định số và truyền tải dữ kiện do các hảng điện thoạiđịa phương cung ứng. ISDN phục tráchđịnh số hoá (digitalization) hệ thống điện thoại để truyền tải âm thanh, dử kiện, tài liệu, đồ hình, âm nhạc, phim hình, và những nguồn tài liệu khác qua đường dây điện thoại.
• • CODEC (coder-decoder – mã hóa và giải mã) là yếu tốthen chốt của các hệ thống hội thoại viễn liên. Bộ phận nầy hoán chuyển những tín hiệu định hình (analog signals) nhận từ camera sang dạng định số (digital) và nén chúng lại để gởi đi. Một bộ phận CODEC ở đầu bên kia sẽ hoán chuyển những tín hiệu trên ngược trở lại dạng định số (analog) đế có thể xem trên màn hình.
9. Phân loại các hệ thống hội thoại viễn liên
• • Sữ dụng Personal Computers (máy điện toán cá nhân): Thiết bị dùng cho hội thoại viễn liên qua máy điện toán cá nhân giúp những người tham gia đối tác ngay từcomputer của mình - với các đặc điểm như: số người hiện diện, đối thoại (chat), âm thanh, hình ảnh, và hợp tác trên mạng - nhờ vậy số nhân viên sữ dụng computer để hội thoại sẽ tăng lên.
• • Sữ dụng Laptops điều hành (Executive Laptops): Một hệthống toàn vẹn gồm một camera có độ rõ nét cao (HD Camera), loa và một màn hình phẳng mặt (flat panel display) có thể rộng gấp hai lần màn hình máy điện toán cá nhân (PC monitor)
• • Sữ dụng văn phòng: Nhiều thành viên trong một văn phòng đối tác với những thành viên khác trong một phòng khác
• • Sữ dụng độ rỏ nét cao (High Definition): có thể cung ứng độ rỏ của hình gấp hai lần theo chiều ngang và chiều dọc và phẩm chất gần 10 lần so với các hệ thống cũ,nếu có dải tầng thích hợp (appropriate bandwidth)
10. Những yếu tố thành công trọng yếu
• • Thoả mản những người tham dự
• • Dễ tiếp cận
• • Chất lượng cao
• • An toàn
• • Hiệu quả cao
11. Kết Luận
• • Cơ quan nghiên cứu Wainhouse tin rằng khả năng to lớn mà Internet2 cung ứng sẽ có một tác động ưu thế trên công tác giáo dục viễn liên, và đặc biệt trên việc sữ dụng truyền hình đối tác hai chiều trong lớp học
• • Chúng ta tin rằng các công ty có thể bắt đầu gia tăng việc sữ dụng hội thoại viễn liên để ứng phó với điều kiện di chuyển mỗi ngày một khó khăn hơn do sự tăng giá vé máy bay và nơi ăn chốn ở.
Nguyễn Mạnh Cường
Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là một bộ phận của Y Khoa Tri Liệu Viễn Liên (Telemedicine) - YKTLVL. Khoa học nầy sữ dụng thông tin y học trao đổi giửa hai địa bàn thông qua những phương tiện truyền thông điện tữ liên quan đến sức khỏe và giáo dục bệnh nhân hay cơ quan cung ứng dịch vụ y tế và nhằm cải thiện công tác chăm sóc bệnh nhân. Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên bao gồm các dịch vụ tư vấn, chẩn đoán, và trị liệu. TLTLVL đã được thực hiện trên 40 năm nay và sữ dụng kỹ thuật Hội thoại viễn liên (Videoconferencing) để cung ứng dịch vụ tư vấn cho bệnh nhân mắc bệnh tâm lý.
Mục Lục
Tổng Quát
Kỹ Thuật (Technolgy)
Màn Hình (Monitor)
Máy Thu Hình (Camera)
Bộ Phận Mật Mã (CODEC)
Dải Tần (Bandwidth)
Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)
Những Yếu Tố thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)
Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)
Phúc Lợi (Benefits)
Vấn Đề (Issues)
Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)
Tổng Quát
Các hệ thống TLTLVL do Wittson thiết lập vào đầu thập niên 1950 tạI TâmLý Học Viện Nebraska (NPI). Trong tài liệu nhan đề “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatry Care”, Mark Moran cho biết, “Hầu hết các bác sỹ tâm lý đều đồng ý rằng nếu điều kiện cho phép thì việc chẩn đoán và trị liệu trực diện vẫn tốt hơn hết. Tuy nhiên họ nói rằng TLTLVL là một phỏng đoán đủ chính xác để mọi người chấp nhận ngay khi phương pháp trị liệu thường thiếu những dịch vụ về tâm lý.” Mặc dù vẫn còn những vấn đề liên quan đến phương thức thực hiện, phẩm chất và một số những trở ngạI hiện có trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL, kỹ thuật nầy đang càng ngày càng được chấp nhận hơn đới với các bác sỹ tâm lý, các công ty cung ứng dịch vụ y tế và những bệnh nhân ở những vùng quê cũng như quân đội.
Vậy thì Y Khoa Trị Liệu Viễn Liên (YKTLVL) và Tâm Lý Trị Liệu Viễn Liên (TLTLVL) là gì?
YKTLVL, trong đó có TLTLVL, thường ám chỉ bất kỳ dạng kỹ thuật nào có thể giúp chửa trị y khoa từ hai vị trí địa lý khác nhau - Điện thoại, Fax, lưu trử hồ sơ điện tữ (electronic record keeping), email, Internet để phổ biến tài liệu hướng dẩn cho bệnh nhân. Nhưng kỹ thuật có tiềm năng xa tầm và thích ứng cao nhất là Hội Thoại Viễn Liên (Videconferencing), giúp bác sỹ và bệnh nhân nhìn thấy nhau và đối thoại vớI nhau từ những địa bàn xa qua một máy thu hình và một màn ảnh truyền hình. Và ngày nay, TLTLVL - sữ dụng kỹ thuật để trị liệu và giáo dục tâm lý từ những vị trí địa lý xa nhau – có thể biến thành sự thật những gì trước dây được coi là ngông cuồng.
Trên đay hai từ YKTLVL và TLTLVL đả dưọc định nghĩa rõ ràng và kỹ thuật thông thường nhất dùng cho TLTLVL là Hội thoại viễn liên (Videconferencing) - HTVL. HTVL đã được sữ dụng và thử nghiệm trong một số hệ thống YKTLVL và các nhà chuyên viên nghĩ rằng “TLTLVL hứa hẹn sẽ bành trướng dịch dụ điều trị tâm lý, đặc biệt trong những vùng xưa nay vốn thiếu những dịch vụ nầy.” Và một số nghĩ rằng “đó là trào lưu của tương lai” (Rodrigo Muñoz, M.D, Chủ tịch Hiệp Hội Tâm Lý Hoa Kỳ). YKTLVL tạo điều kiện phỏng vấn bệnh nhân ở cách xa hàng dặm. Đó là một một ứng phó trước tình trạng phân phối không y sỹ đồng đều, và là cơ hội để thăm dò giới hạn hiệu năng của khoa học kỹ thuật.
Kỹ Thuật (Technology)
Các Bác sỹ Tâm lý nhờ vào kỹ thuật HTVL để phỏng vấn, cố vấn và chẩn đoán bệnh nhân. Hình 1 tượng trưng một biểu đồ của những hệ thống HTVL điển hình dùng cho YKTLVL trong một tài liệu nghiên cứu gần đây về HTVL. Biểu đồ minh họa những thành tố chính của các hệ thống YKTLVL/TLTLVL, gồm có màn hình, máy thu hình, bộ phận mật mã, máy vi tính, vi âm, và loa phóng thanh.
Màn Hình (Monitor)
Màn hình chiếu lên hình ảnh hoạt trường và những ngườI liên hệ ở đầu bên kia. Các phòng có thể chia thành nhiêu đơn vị và chiều dài mỗI đơn vị tốI thiểu là 33 feet. Một màn hình vi tính 17 inch là thích hợp nhất cho những cuộc phỏng vấn thường lệ.
Máy Thu Hình (Camera)
Máy thu hình dùng để thu những hình ảnh tạI hoạt trường và gởI hình qua đầu bên kia. Chất lượng của lăng kính rất quan trọng và những lăng kính có hoành độ rộng (wide-angle lens) rất hữu ích khi hoạt trường có từ hai ngườI trở lên.
Bộ Phận Mật Mã (CODEC)
Bộ phận nầy là đầu nảo của hệ thống HTVL, giúp chuyển những tín hiệu định hình (analog signals) mà máy thu hình nhận được sang tín hiệu định số (digital signals) và thu nén chúng lại (compress) trước khi truyền tải sang bên kia. Ở đầu bên kia, một bộ phận tương tự chuyển những tín hiệu ngược trở lại dạng định số để có thể xem được trên màn hình.
Dải Tần (Bandwidth)
Từ nầy ám chỉ số lượng dữ kiện (data) có thể truyền tải trong một thời gian cố định. Những Hệ Thống Định Số Hệ Phân Toàn Vụ (ISDN – Integrated Services Digital Networks) được sữ dụng để tránh dị dạng về hình ảnh và âm thanh (image and voice distortion).
Máy Vi Tính Cá Nhân (Personal Computer)
Với những trang thiết bị và nhu liệu điện toán, máy vi tính được dùng để cung ứng những lập trình đối tác (interactive applications) và HTVL.
Trang thiết bị dành cho YKTLVL khác biệt rất nhiều về giá cả, từ vài trăm Dollar để sữ dụng Internet cho đến trên $60,000 cho những hệ thống thượng thặng dùng cho cả phòng. Cái khó khăn khi phỏng định giá cả cho TLTLVL càng trở nên phức tạp hơn vì tính chất năng động của kỹ thuật HTVL.
Khi so sánh phương pháp phỏng vấn trực diện cỗ truyền vớI phương pháp phỏng vấn TLTLVL theo những điều kiện và chẩn đoán khác nhau, các nhà nghiên cứu theo dõi quá trình thử nghiệm những hệ thống TLTLVL cho biết, “Sự gián cách giửa bác sỹ điều trị và bệnh nhân gần như không có ảnh hưởng gì trong những lần trị bệnh.” Từ cuộc thử nghiệm áp dụng những hệ thống TLTLVL đầu tiên, các nhà nghiên cứu “nhận thấy các bệnh nhân và thân quyến của họ tiếp thu rất tốt đối với hình thức truyền thông nầy.”
Những Yếu Tố Thành Công Then Chốt (Critical Success Factors)
Căn cứ trên những tài liệu phê bình về những hệ thống TLTLVL, năm yếu tố thành công then chốt được mô tả như sau:
1. 1. Thóa đáng (Satisfactory): Những hệ thống TLTLVL phải được thực hiện với những một thiết bị đối tác thân thiện (friendly user interface) và cung ứng những dịch vụ gíup bác sỹ cảm thấy thoảI mái khi sữ dụng.
2. 2. Dễ truy cập (Accessibility): Những hệ thống TLTLVL phảI dễ truy cập trong những vùng nông thôn hay hẻo lánh vớI dảI tần hạn chế.
3. 3. Chất Lượng (Quality): Hình ảnh tốt và không bị trục trặc trong khi phỏng vấn hay tham vấn.
4. 4. An Toàn (Security): Bảo mật dữ kiện, hình ảnh và thông tin của bệnh nhân.
Những yếu tố thành công then chốt nầy sẽ giúp những người quản lý công trình tạo được một kế hoạch công trình tốt, tránh thất bại khi thực hành và triển khai hệ thống TLTLVL. Thực vậy, mọi công tác HTVL muốn thành công cần phải có khả năng làm cho bệnh nhân vui thích với những dịch vụ của mình. Phẩm chất của dự án gồm có: hình ảnh phải tốt, âm thanh rõ, và hệ thống dễ sữ dụng và điều khiển. Nếu những hệ thống HTVL được liên kết với các hệ thống y tế khác và được sữ dụng như nhữn phương tiện trị liệu thì nó cần được đảm bảo sẽ bảo mật những riêng tư của bệnh nhân. Hiệu năng cũng là một yếu tố then chốt khác của các hệ thống HTVL vì hầu hết những Trưởng Phòng Điều Hành (CEO) và Tổng Quản Đốc đều muốn hệ thống phảI hoạt động liên tục trong thời gian hội thoại.
Cơ Sở Hạ Tầng và Định Trường (Infrastructure and Framework)
Đa số các hệ thống TLTLVL đều có một cơ cấu truyền thông hạ tầng hổ trợ kỹ thuật truyền tin nội bộ giửa các máy vi tính (TCP/IP) và trên mạng. Các bác sỹ tâm lý sẻ phỏng vấn bệnh nhân bằng phương pháp trực diện cỗ truyền hay sữ dụng kỹ thuật trên mạng theo ngôn ngữ lập trình .NET, Định trường 3.5 (Framework 3.5), hay Java theo lối hỏi/đáp. Họ có thể thực hiện những báo cáo thẩm định và đề nghị phương án điều trị căn cứ trên những báso cáo nầy. Với đà phát triển mạnh và nhanh của kỹ thuật HTVL, các bác sỹ tâm lý có thể đủ khả năng để tiến hành phỏng vấn bệnh nhân và theo dõi việc điều trị bằng điện thoại di động hay những hệ thống truyền hình có độ rõ cao (HD systems).
Các tiêu chuẩn sữ dụng những hệ thống HTVL được định nghĩa bỡi Ủy Hội Viễn Thông Quốc Tế (ITU) tại Thụy Sỹ. Dưới đây là một số những tiêu chuẩn được các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ sữ dụng:
• • H.320 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại viễn liên có dải tần hẹp (narrow bandwidth) sữ dụng mạch điện xoay chiều như N-ISDN, SW56, các hệ thống đặc dụng (dedicated networks)
• • H.321 là tiêu chuẩn dành cho các hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
• • H.323 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần hẹp sữ dụng kỹ thuật không đảm bào chất lượng (LAN – Local Area Network, Internet, v.v.)
• • H.324 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rất hẹp sữ dụng hệ thống điện thoại thường
• • H.310 là tiêu chuẩn dành cho những hệ thống hội thoại có dải tần rộng và sữ dụng kỹ thuật ATM (Asynchronous Transfer Mode – Phương thức truyền tải bất đồng hành) và B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Networks – Phương thức truyền tải đồng hành và bất đồng hành đa năng)
Phúc Lợi (Benefits)
Khi sữ dụng những hệ thống TLTLVL, bệnh nhân có thể tiết kiệm được thì giờ và tiền bạc vì có thể khám bệnh mà không cần phải đi đến phòng mạch bác sỹ. Sau đây là những thí dụ điển hình về việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania:
“Việc sữ dụng YKTLVL tại ba trại giam ở Pennsylvania giúp giảm thiểu số lượng vận chuyển bệnh nhân bằng máy bay tới Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield. Số lượng bác sỹ TLTLVL tại FMC-Lexington cùng với nghiệp vụ chuyên môn của họ được xem như đã giúp điều trị và theo dõi những bệnh nhân tâm thần hiệu quả hơn. Đối với những bệnh nhân được ổn định và được theo dõi như thế, những khủng hoảng đã tránh được. Khi tâm lý những tù nhân trở nên xáo trộn họ tìm đến ngay các bác sỹ TLTLVL để những người nầy có thể tìm cách nói để xoa dịu họ xuống, nhờ đó chuyển hướng được một cơn khủng hoảng cấp tính và không phải chuyển bệnh nhân đến trại tâm thần tại Trung Tâm Y Tế Liên Bang ở Springfield.”
Ngoài vấn đề tiết kiệm tiền bạc và thì giờ, những hệ thống TLTLVL có thể dùng để huấn luyện y tá và viên chức cải huấn biết cách đối phó với hành vi quá khích của các tù nhân bị bệnh tâm thần trong khi giám sát những hoạt động hằng ngày của họ hầu ngăn ngừa bạo động.
Vấn Đề (Issues)
Vẫn có những vấn đề kỹ thuật trong việc sữ dụng những hệ thống TLTLVL. Trước nhất, một số bác sỹ vẫn không muốn ssũ dụng chúng vì họ chưa cảm thấy tụ tin khi ssữ dụng kỹ thuật nầy và một số hệ thống và lập trình hãy còn chưa hoàn toàn dễ sữ dụng, khó khai triển và thực hành. Thứ hai, nếu sữ dụng một hệ thống với dải tần hẹp thì có thể sẽ bị châm trể trong khi phỏng vấn hay tham vấn. Một số hệ thống sữ dụng truyền hình với độ rõ cao (HDTV) sẽ cung ứng hình ảnh chất lượng cao và âm thanh rõ và không bị chậm trể hay trục trặc nếu hoạt động trong hệ nội bộ (LAN/WAN). Tuy nhiên, tốn phí hãy còn rất cao ($20,000 - $60,000 mỗi hệ thống). Kỹ thuật nầy còn đòi hỏi tốn phí để huấn luyện nhân viên vi tính để yểm trợ, bảo trì, và liên kết hệ thống TLTLVL với cơ cấu tin học hạ tầng (iT infrastructure).
Mặc dù những hệ thống TLTLVL còn một số vấn đề kỹ thuật, việc sữ dụng chúng sẽ tiếp tục phát triển trong 10 năm tới. Với giá xang dầu tăng cao, bệnh nhân sẽ thích sữ dụng các hệ thống TLTLVL hơn là đi đến các phòng mạch bác sỹ. Kỹ thuật cũng cho phép bệnh nhân chọn ngày giờ hẹn với bác sỹ tâm lý và họ cũng có thể xem được kết quả thử máu hay các kết quả thử nghiệm khác qua những lập trình vi tính trên mạng. Các bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng có thể sữ dụng những hệ thống nầy để cung ứng dịch vụ tốt hơn cho bệnh nhân của mình và huấn luyện những đồng nghiệp trong cùng ngành. Với công tác chỉ đạo hiệu quả trong qủan trị y tế, bệnh viện, những định chế nghiên cứu, những nhà lập pháp, cơ quan liên bang và tiểu ban, các hệ thống TLTLVL sẽ gia tăng trong các bệnh viện, quận hạt, tiểu bang, quốc gia và ngay cả tại tư gia của chúng ta. Chiều hướng đó sẽ gia tăng truy cập cho các bệnh nhân, thành viên, chuyên gia, bác sỹ nói chung và bác sỹ tâm lý nói riêng.
Ứng Dụng Tương Lai (Future Applications)
Theo một tài liệu của Hiệp Hội Viễn Thông Quốc Tế (Comité Consultatif international Télégraphique et Téléphonique), tiêu chuẩn kỹ thuật H323 được mô tả là một trong những thành tố trọng yếu trong công trình triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng (voice-over iP services). “Tiêu chuẩn H323 được coi là trọng yếu trong việc hổ trợ triển khai dịch vụ âm thanh hậu cảnh trên mạng, và nhận được sữ yểm trợ rộng rãi của các công ty sản xuất thiết bị nhờ vào khả năng đa hệ (interoperability) của nó. Người ta ước tính những hệ thống sữ dụng tiêu chuẩn H323 truyền tải được hàng tỷ phút âm thanh mỗi tháng. H323 cũng được sữ sụng trong các hệ thống HTVL.”
Bên cạnh là cấu trúc của một hệ thống HTVL điển hình dùng cho các hệ thống TLTLVL sữ dụng H323 với nhiều điểm kiểm định (Multiple Control Points).
Hệ thống HTVL hổ trợ điện thoại di động, máy vi tính cá nhân, máy truyền hình độ rõ cao, và những lập trình trên mạng. Bệnh nhân, công ty cung ứng dịch vụ y tế, nhân viên cải huấn có thể vào hệ thống bằng điện thoại di động, hay máy vi tính cá nhân co gắn Webcam (máy thu hình trên máy vi tính) có dịch vụ Internet hay máy truyền hình sữ dụng hệ thống ISDN để tham vấn với bác sỹ tâm lý mà không cần phải mang bệnh nhân tới phòng mạch. Hệ thống sẽ giúp tiết kiệm thì giờ và tiền bạc cho gia đình và cơ quan chính phủ. Bệnh nhân vẫn có thể hưởng được những dịch vụ thích hợp vớI thờI gian chờ đợI ngắn hơn. Ngoài ra, bệnh nhân vẫn có thể hưởng được sự hổ trợ và tham vấn từ bác sỹ ngay cả khi sinh sống trong những miền quê hay nơi hèo lánh hoặc đang đi du lịch bằng cách gởi thông điệp bằng chử trên điện thoại di động.
Bản TiếngAnh
Telemedicine is the use of medical information exchanged from one site to another via electronic communications for the health and education of the patient or healthcare provider and for the purpose of improving patient care. Telemedicine includes consultative, diagnostic, and treatment services. Telepsychiatry has been implemented for over 40 years and uses videoconferencing technology to provide consulting services for patients with mental illness.
Contents
Introduction
Technology
Monitor
Camera
CODEC
Bandwidth
Personal Computer
Critical Success Factors
Infrastructure and Framework
Benefits
Issues
Future Applications
See Also
References
Introduction
The first Telepsychiatry systems were implemented by Wittson in the early 1950s at the Nebraska Psychiatric Institute (NPI). According to “Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care “, Mark Moran states, “Most psychiatrists agree that when possible, face-to-face assessment and treatment are optimal. However, they say that Telepsychiatry is a close-enough approximation to make it more than acceptable when the alternative is no access to psychiatric services. “[1] Even though there are still issues related to implementation, quality and some existing barriers for using Telepsychiatry systems, the technology is becoming more and more adopted by psychiatrists, healthcare providers and patients living in rural areas as well as the military.
Then what are Telemedicine and Telepsychiatry? “Telemedicine, of which Telepsychiatry is a specialty, refers generally to the use of any kind of technology to facilitate the practice of medicine across distances—phone, fax, electronic record keeping, e-mail therapies, and use of the Internet to post educational material for patients. But the model that has the most far-reaching and transformative potential is the use of videoteleconferencing (VTC), allowing physicians and patients to see and talk to each other in remote sites using a video camera and television screen.“ [1]And today "Telepsychiatry"—the use of technology to facilitate psychiatric treatment and education across distances—could turn what once seemed like a whimsical fantasy into reality.” [1]
In the previous paragraph, Telemedicine and “Telepsychiatry” have been clearly defined and the most common technology was used for Telepsychiatry is Video Teleconferencing (VTC). The VTC technology had been used and tested in some Telemedicine systems and the experts think “it promises to expand access to psychiatric care, especially in traditionally underserved areas and practice settings” and some think it is the wave of the future," said former APA president Rodrigo Muñoz, M.D. "Telemedicine makes it possible to interview someone who is miles away from you. It is a response to the maldistribution of physicians and psychiatrists, and it is an opportunity to explore the limits of the power of technology."
Technology
Psychiatrists rely heavily on video conferencing technology to interview/consult and examine patient. Figure 1 shows a diagram of typical Telemedicine video conferencing systems in a recent study of a video conferencing project [7]. The diagram illustrates the major components of any Telemedicine/Telepsychiatry systems that are including monitors, cameras, CODEC, a desktop computer, microphones, and speakers.

Monitor
The monitor shows a picture of a local site and the image of the people at the distant site. Rooms can be divided into many units and each unit is 33’’ or larger. A 17’’ desktop monitor is preferred for routine interview.
Camera
The camera is used to capture the image at the local site and send it to the other site. The quality of the lens is very important and wide-angle lens is useful if more than one or two people to be viewed.
CODEC
“The CODEC (coder-decoder) is the heart of the teleconferencing device. It transforms the analog signal(the picture) picked up by a video camera to a digital signal and compresses it for transmission to the distant site; there, another CODEC transforms the digital back to an analog one for viewing the video monitor.”
Bandwidth
The bandwidth refers to the amount data that can be transmitted in a fixed amount of time. Digital ISDN (128Kbps) lines are used to avoid image and voice distortion.
Personal Computer
A desktop computer can be used with hardware and software packages to provide interactive applications and videoconferencing.
“Telemedicine equipment varies widely in cost, from a few hundred dollars for Internet access to $60,000 plus to top range room systems. The difficulty in quoting costs for Telepsychiatry is further complicated by the dynamic nature of the video conferencing technology”. [7]
By comparing the traditional face-to-face interview with the Telepsychiatry interview using the video conferencing technology across the various diagnoses and conditions, the researchers involved in the trial of the implementation of the Telepsychiatry systems said, “The isolation of the therapist from the patients had almost no effect on group sessions”. From the trial of the first implementation of Telepsychiatry systems, researchers “found patients and relatives were very receptive to this form of communication.”
Critical Success Factors
Based on literature review on the existing Telepsychiatry systems, five critical successful factors have been identified as follow:
1) Satisfactory : the Telepsychiatry systems has to be implemented with a friendly user interface and provide the services that makes the psychiatrist feel comfortable with using them
2) Accessibility : Telepsychiatry systems has to be easily access in the rural, isolated areas with limited bandwidth
3) Quality : Good image and no down time during the interview/consultation
4) Security : protect patient’s data/image and information
These Critical Success Factors will help the project managers create a good project plan, avoid failure for their future implementing and deploying Telepsychiatry systems.
Indeed, every successful videoconferencing needs to be able to make users happy with its services. The Quality of the projects like good images, sound needs to be clear and the systems are easy to be used and operate are key factors for successful. If the conferencing systems are integrated with other health care systems and are used as tools to treat patients, it needs to be secured to protect privacy of patients. Performance is also another key factor for conferencing systems because most CEOs and senior management will expect systems up and running without any interruption during their meetings or conferences.
Infrastructure and Framework
Most of the latest Telepsychiatry systems will have a telecommunication infrastructure supporting TCP/IP protocol and internet technology. The psychiatrists will interview their potential clients by traditional way like face to face interview or using web-based application using .Net framework (3.5) or Java technology to click and choose the answer. They can make assessment reports and suggesting treatment plan based on those assessment reports. With the growing strong and fast of video conferencing technology, psychiatrists might be able to conduct interview with their patients and follow up their treatment using cell phone/HD systems.
The standard of using video conferencing systems is defined by International Telecom Union (ITU) based in Geneva, Switzerland. Here are some of the standards used by the manufactures and service providers:
• H.320 is a standard for Narrow-band videoconferencing over circuit-switched networks(N-ISDN, SW56, dedicated networks)
• H.321 is a standard for Narrow-band videoconferencing over ATM and B-ISDN
• H.323 is a standard for Narrow-band videoconferencing over non-guaranteed quality-of-service packet networks (LAN, Internet, etc.)
• H.324 is a standard for Very narrow-band videoconferencing over the general (dial-up) telephone network
•
Benefits
By using Telepsychiatry systems, we can save time and money by allowing patients getting consulting office without going to the doctor’s office. Here is one of the good examples of using Telepsychiatry systems for three Pennsylvania prisons:
“The use of Telemedicine systems for three Pennsylvania prisons helps to reduce number of emergency airlift to Federal Medical Center at Springfield. The availability of psychiatrists at FMC-Lexington, via Telemedicine, and their expertise were thought to result in more effective medication and monitoring of prisoners suffering from psychiatric illnesses. With prisoners, thus stabilized and monitored, crises were avoided. When prisoners became agitated, they had quick access to the remote psychiatrist, who was able to "talk them down," thereby sidetracking a downward spiral and averting a transfer to the psychiatric ward at Federal Medical Center at Springfield.”[6]
Besides saving time and cost, Telepsychiatry systems can be used to train nurses and correctional officers to deal with extreme behavior of mental prisoners while monitoring their daily activities to prevent violence. In this way, Telepsychiatry systems will help save money and time while providing users with a better quality of health care services.
Issues
There are still technical issues with the use of Telepsychiatry systems. First, some doctors still not want to use them because they still not feel comfortable with using technology and some systems and applications are still not quite easy to use, hard to deploy and implementation. Second, if the systems using a system with a low bandwidth, it will cause some delay during the interview or consultation. Some systems using High Definition TV will provide a very high image quality and clear sound with no delay and down time if it is running on the LAN or WAN with the high bandwidth. However, the cost is still high ($20,000-$60,000 per system). It also requires additional cost for training IT personnel for supporting, maintaining, and integrating Telepsychiatry systems with the existing IT infrastructure.
Although Telepsychiatry systems still have some technical issues, their use will continue to grow in the next 10 years. With the rise of oil prices, patients will prefer to get consultation services through the use of video conferencing technology instead of going to the doctor’s office. This will also allow patients to schedule their appointments with psychiatrists and they can also see their blood/medical test results through web based applications. Doctors and psychiatrists can use these systems to provide better services for their patients and help them educate fellow healthcare professionals. With the strong leadership of healthcare administration, hospitals, research institutions, law makers, local and federal agencies, their will be an increase of Telepsychiatry systems implementation in hospitals, counties, states, countries and even our home. This will allow greater access for patients, members, professional personals, doctors and psychiatrists.
Future Applications
According to a paper published by CCITT name “CCITT-50 years of excellent - 1956-2006”, H.323 family as describe as one of the crucial components for developing voice over IP services as follow “The H.323 family of standards has been crucial in fostering the development of new voice-over IP services, winning widespread support from equipment vendors because of the interoperability that it enables. It is estimated that systems using H.323 carry billions of voice minutes each month. H.323 is also widely used in videoconferencing systems.”[8]
Here is the system architecture for a typical video conferencing system for Telepsychiatry systems using Multiple Control Points and using H.323 family of standard in the figure 2 below.

Figure 2: System architecture of a video conferencing system
In the above system, we can see that the videoconferencing supporting mobile phone, PC, HD TV and the web-based applications can run on the desktop computer, mobile phones. Patients/provider/correctional officers can connect to the systems using cell phone (3G network) or computer with web cam using IP network or TV using ISDN network to request consultation from a psychiatrist without bringing mental patients to his/her office. It will help to save money and time for family and government agency and patients can get the appropriate service with less waiting time. Also, patients can still get support and consultation from the psychiatrist even when they live in rural/isolated areas or are traveling via text messaging.
See also
Telemedicine - http://en.wikipedia.org/wiki/Telemedicine
Psychiatry - http://en.wikipedia.org/wiki/Psychiatry
References
[1]. Telemedicine Advances Could Expand Psychiatric Care http://pn.psychiatryonline.org/cgi/content/full/39/6/14. .Retrieved on 06/10/08
[2]. ISDN. ISDN Protocols - LAPD | ISDN. Retrieved June 24th, 2008, from http://www.protocols.com/pbook/isdn.htm
[3]. Lawlor, T. LCD projectors, Audio/Video equipment and computers from M Communications. Video Conferencing Gaining Popularity. Retrieved on 06/10/08 from http://www.mcommunications.com/tips/vidConfLaw/.
[4]. Tandberg. Key Considerations for Maximizing - Your Video Architecture: Moving Beyond Point-to-Point Conferencing. July 2005. 13 p.
[5]. Tandberg. Video Conferencing Standards 2.2. D10740. 12 p.
[6]. Telemedicine Averted Costly Transfers to Federal Medical Centers. Retrieved June 16th, 2008, from http://www.ncjrs.gov/Telemedicine/c2c.html.
[7].LeRouge, C.& Garfield, M.J, and Hevner, A.R,”Quality Attributes in Telemedicine Video Conferencing”, Proceedings of the 35th Hawaii International Conference on System Sciences, 2002.
[8]. CCITT-50 years of excellent -1956-2006. Retrieved on 06/16/08 from www.itu.int/ITU-T/50/docs/ITU-T_50.pdf.

TRUYỆN NGẮN
Ở ĐÂU CŨNG CHỈ MỘT VẦNG TRĂNG
Chắc các bạn ai cũng biết ông Lý Bạch, nhà thơ nổi tiếng như cồn bên Tàu cách nay cả hơn một ngàn năm có dư, và được tôn sùng là nhà thơ số một từ trước tới nay của Trung Hoa đó mà. Thơ ông hay làm sao, thật tình tôi chưa hân hạnh đọc đựợc bài nào, nhưng ông chết thế nào thì tương truyền rằng một hôm ông đang đi thuyền uống rượu trên sông bỗng thấy bóng trăng phản chiếu xuống dòng nước đẹp quá, sẵn hơi men, ông nhảy ùm xuống nước để ôm trăng và…ngủm.
Mỗi lần nghe câu chuyện trên, tôi vẫn cười tự hỏi không biết ông Lý Bạch đã để lại cho hậu thế được bao nhiêu bài thơ và ngày nay biết còn được mấy người có thể nhớ trọn một bài thơ nào đó của ông. Nhưng chính cái chết của ông lại được thi vị hoá thành một huyền thoại và lưu truyền rộng rãi mãi cho đến bây giờ. Tôi thì tôi cho rằng bữa đó ông xỉn quá ngồi trên thuyền không vững nên bị tai nạn té xuống nước, và xui một điểm là nhà thơ không … biết bơi, nên đành lặng lẽ trôi theo khóm lục bình. Vậy thôi. Trăng thì cứ nhìn lên trời thấy nó sáng chói, rõ ràng mới đẹp chứ đợi nó in hình dưới nước thì đâu có gì đẹp? Tôi lấy thí dụ bạn muốn ngắm một người đẹp thực sự bằng xương bằng thịt trước mặt mình, hay nhìn cô ta trong gương vậy?
Vậy đó mà những cơn mưa bão thổi qua Cali mấy ngày qua đã làm tôi suy nghĩ lại. Không chừng ông Lý Bạch quả đúng như tương truyền, ông ấy nhảy xuống sông để ôm trăng mà chết thiệt.
Hôm kia, không hiểu vì lý do gì tôi ra vườn sau nhà vào buổi tối. Mưa đã tạnh, nhưng hậu quả của mấy ngày mưa dầm dề đã làm nước ngập một cái vũng trong vườn nhà tôi, khá lớn, độ gần một mét đường kính. Nếu không nhờ mấy cơn mưa lớn vừa rồi tôi cũng không biết vườn nhà mình có một chỗ hủm để nước có thể tụ lại thành vũng trông như một cái ao tý hon vậy. Nhưng điều làm tôi thích thú nhứt là ở ngay giữa ao là nguyên một vầng trăng. Đúng vậy. Mưa tạnh, mây tan và trăng lại hiện ra trên cao. Trăng rằm vành vạnh, chói sáng cả bầu trời sau cơn mưa và in trọn vẹn xuống …cái ao vườn nhà tôi.
Trăng đẹp. Chúng ta có ai không một lần trong đời nhìn trăng trên cao và tấm tắc khen là nó đẹp. Đã biết bao nhiêu giấy bút, thi văn, thần thoại xuất xứ từ trăng lưu truyền từ ngàn xưa và sẽ mãi đến ngàn sau. Tôi cũng vậy. Thỉnh thoảng, thường là những ngày rằm, tôi có khi tình cờ nhìn vầng trăng chiếu sáng trên bầu trời và cũng tấm tắc khen nó… đẹp. Chỉ vậy thôi. Nữa phút là nhiều lắm. Nếu lúc đó có ai hỏi trăng đẹp ở chỗ nào thì đành cười trừ.
Hôm nay cũng vậy. Tôi cũng nói là vầng trăng trên trời thật đẹp. Đẹp ở đâu ? Không biết. Nhưng vầng trăng ở trong vũng nước ngay trước mặt tôi thì khác. Tôi sẽ không ngần ngại gì mà trả lời rằng trăng đẹp vì hình như là nó có hồn. Hồn Trăng.
Có một sự khác biệt rõ ràng giữa hai vầng trăng. Trăng ở trên trời thì xa xôi diệu vợi, còn vầng trăng dưói đất trước mặt tôi thì nó gần gủi làm sao. Thậm chí tôi có thể lấy tay đụng nó được. Trăng trên cao thì bất động vô tri, còn trăng ở đây thì đang chuyển mình theo từng gợn sóng lăn tăn mỗi khi có cơn gió thổi qua làm cho tôi có cảm tưởng như trăng đang múa. Một cảm giác man mác, thanh thản chạy khắp cơ thể làm tôi rùng mình với ý nghĩ này. Trăng trên trời là của chung nhân loại, còn vầng trăng này là của riêng tôi. Của tôi mà thôi. Trong một khoảnh khắc mấy giây thôi, tôi có cảm giác như thế giới chung quanh mình bỗng nhiên ngừng đọng; chỉ còn vầng trăng trước mặt đang lã lướt uốn mình trong một vũ điệu nghê thường nào đó, và tôi là khán giả duy nhứt được chọn để thưởng ngoạn.
Tôi ráng đứng thật yên tận hưởng những giây phút kỳ diệu này, vì một đám mây đang dần kéo đến xâm chiếm và che dần vầng trăng của tôi. Tôi tiếc lắm nhưng không làm gì được. Tôi linh cảm là những cảm giác vừa qua có thể là cơ hội duy nhứt trong đời. Trăng thì bao giờ cũng còn, và nước thì ở đâu cũng có, nhưng phải đợi đến bao giờ cảnh và tình mới có thể kết hợp một cách hài hòa và sống động trong tôi như vậy nữa?
Và tôi bỗng nhớ tới ông Lý Bạch. Họ nói ông thấy trăng dưới nước đẹp quá bèn nhảy theo xuống. Cũng có thể lắm. Tôi chỉ là một hậu sinh tầm thường mà bỗng nhiên cũng có vài giây xuất thần như vậy thì với công lực cao siêu của ông Lý Bạch, có lẽ ông không những thấy trăng đang muá vũ khúc Nghê Thường, mà chắc là ông còn thấy cả Hằng Nga Tiên nữ trong đó nữa nên ông nhào xuống ôm là phải rồi.
Trở lại cái vũng nước sau vườn .
Tôi vẫn còn tiếc nuối vầng trăng của tôi nên nấn ná chờ cụm mây đi qua. Quả nhiên chỉ vài phút sau sự nhẫn nại của tôi đã được bồi đáp. Trăng lại xuất hiện một lần nữa, trong veo vẻo giữa cái ao. Nó cũng uốn mình lăn tăn theo từng gợn sóng. Tôi mừng lắm, nhưng rồi lại thất vọng vì quả nhiên là không còn tìm lại được cảm giác như lúc nảy nữa. Trăng vẫn đẹp, nhưng tôi không còn cảm được cái hồn của nó nữa. Tiếc quá đi thôi.
…
Có một đoạn thơ xưa như vầy:
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy
Chàng ở đầu sông, thiếp ở cuối sông. Nhớ nhung nhưng không thể gặp mặt; hãy cùng nhau uống nước sông Tương.
Nếu tôi nhớ không lầm thì đây là bốn câu trong bài thơ Trường Tương Tư. Bài thơ khá dài nhưng đây là bốn câu độc đáo và được trích đọc nhiều nhứt. Chuyện xưa kể rằng có nàng Lương Ý Nương nhà ở bên bờ sông Tiêu Tương vừa đẹp lại vừa hay chữ. Ở trọ nhà nàng có thư sinh tên là Lý Sinh. Một đêm Trung Thu trăng tròn, hai người cùng thưởng trăng, tâm đầu ý hợp và thương yêu nhau. Cha của nàng không đồng ý cuộc tình nên đã đuổi Lý Sinh ra đi thật xa. Nàng Ý Nương ở lại nhà bên bờ sông Tương, thương nhớ người tình mà cảm tác ra bài Trường Tương Tư này.
Phải chi ngày đó có ai nói cho họ biết rằng không phải chỉ có nước sông Tương mới là cái chung của họ. Còn vầng trăng trên trời nữa chi? Dù có cách xa nhau ngàn dặm sơn khê thì vầng trăng kia cũng chỉ một. Hai người chỉ cùng nhìn lên trăng mà tâm sự thì cũng vơi đi nỗi niềm.
Nhưng rồi họ lại nói rằng trăng kia có cả…ngàn cặp tình nhân khác cùng nhìn và cùng tâm sự như họ thì đâu còn gì là riêng tư. Được thôi. Muốn riêng tư thì có riêng tư.
Dù chàng có ở đầu sông nàng ở cuối sông , thì nơi nào cũng phải có những vũng nước như vũng nước sau vườn nhà tôi, phải không? Vậy thì chàng và nàng cứ ra sau vườn, mỗi người một vũng, đợi trăng lên cao in bóng xuống nước, thế là mỗi người đã có một vầng trăng riêng mặc sức mà tâm sự. Và điều tuyệt vời nhứt là bây giờ trăng đang ở gần ngay trước mặt. Hai người có thể đặt tay lên và nhờ ánh trăng làm cầu đưa lên gặp nhau trên Cung Quảng.
…
Thi sĩ Tản Đà của chúng ta trước đây cũng có một câu Lục Bát bất hủ
Ai mang cho khói lên trời
Cho mưa xuống đất, cho người biệt ly.
Làm người thì phải biệt ly, nhưng hội ngộ thì lại tùy duyên. Nếu có duyên, thỉnh thoảng chúng ta sẽ gặp lại nhau ở những khúc rẻ cuộc đời. Còn nếu lỡ vô duyên thì xin hãy gởi tình qua ánh trăng. Tôi đâu cần phải nhắc bạn đợi trời mưa ra sau vườn lựa một vũng nước nào có trăng in bóng, rồi hai ta cùng thả đôi bàn tay lên vầng trăng trên trời để gặp nhau trên đó, có phải không?
Thân tặng các bạn bài thơ sau đây để chấm dứt bài này.
MƯA TRĂNG
Trăng rơi rơi tỏa ngập bờ đê.
Có người quảy gánh cuối đường quê
Nghiêng vai bóng đổ chân đều bước
Sương khuya trắng phủ mái tóc thề
Tôi về từ nghìn dặm sơn khê
Theo trăng dừng bước cạnh bờ đê
Đôi dòng viết vội treo đầu gánh
Gánh trăng cô gánh cả thơ về
ThaiNC
Mùa Hè Cali

Tặng BN
Trời Cali hôm nay sao thật nóng
Như lòng anh mong ngóng chờ em
Tiển em đi lần trước thật ưu phiền
Chừ gặp lại đầy nổi niềm nhung nhớ
Em bên ấy, anh bên này xa cách
Chỉ gặp nhau sau vài tháng cách xa
Mùa hè này em sẽ đến thăm ta
Mang theo cả một hạ hồng tươi đẹp
Đôi ta sẽ cùng nhau vui hò hẹn
Vì hiểu rằng đời sống ngắn ngủi thôi
Ở bên em rực rở đóa hoa tươi
Làm ấm lại tâm hồn anh lạnh giá
Này em hởi, em sẽ là tất cả
Mùa hạ vàng, sóng nhạc của đời anh
Biết bao giờ em là của riêng anh
Để anh khỏi cô đơn và mong đợi
Bài thơ này viết riêng cho em đó
Để chào em, như ngọn gió buổi trưa
Thật tình cờ và nhè nhẹ đong đưa
Ru giấc ngủ người yêu vào hoa mộng
Nguyễn Mạnh Cường
Nghe Tin Cô Mất
Em nghe tin cô mất
Lòng chẳng biết nói gì
Chúc cô mau giải thoát
Về cõi Phật vô vi
Ngôi trường xưa vẫn nhớ
Cô có nhiều học trò
Nay lưu lạc đâu đó
Khắp phương trời bơ vơ
Bạn bè dăm bảy đứa
Đến thăm cô ngày mưa
Thấy cô già yếu quá
Không còn được như xưa
Nay cô đã ra đi
Thôi chẳng biết nói chi
Thầm dặn lòng nho nhỏ
Lời cô dạy khắc ghi
Nguyễn Mạnh Cường
Lòng chẳng biết nói gì
Chúc cô mau giải thoát
Về cõi Phật vô vi
Ngôi trường xưa vẫn nhớ
Cô có nhiều học trò
Nay lưu lạc đâu đó
Khắp phương trời bơ vơ
Bạn bè dăm bảy đứa
Đến thăm cô ngày mưa
Thấy cô già yếu quá
Không còn được như xưa
Nay cô đã ra đi
Thôi chẳng biết nói chi
Thầm dặn lòng nho nhỏ
Lời cô dạy khắc ghi
Nguyễn Mạnh Cường
Bài Thơ Lục Bát
Bước chân lạc giữa rừng hoang
Ngắm cây thông đứng hiên ngang giữa trời
Xa xa chiều xuống lưng đồi
Nghe chim cất tiếng gọi nhau bay về
Bao giờ em lại cận kề
Cùng nhau ca hát cho quên cuộc đời
Dù cho cuộc sống nổi trôi
Gặp trong giây phút rồi chia tay liền
Biết rằng đời sống đào điên
Em không mang đến ưu phiền cho tôi
Khi nào em gặp lại tôi???
HHL
Ngắm cây thông đứng hiên ngang giữa trời
Xa xa chiều xuống lưng đồi
Nghe chim cất tiếng gọi nhau bay về
Bao giờ em lại cận kề
Cùng nhau ca hát cho quên cuộc đời
Dù cho cuộc sống nổi trôi
Gặp trong giây phút rồi chia tay liền
Biết rằng đời sống đào điên
Em không mang đến ưu phiền cho tôi
Khi nào em gặp lại tôi???
HHL
Ngày Lễ của Bố
Ngày Lễ của Bố
( Xin tặng bài thơ này cho những chiến sĩ VNCH, hương hồn bố và ông nội)
Này con ơi hôm nay là ngày lễ của bố
Bố chỉ có con trai
Nhưng bố mong những đứa con trai của bố
Phải sống đàng hoàng
Phải yêu nước
Và đừng cam tâm chịu nhục
Con hảy nhớ con là con Hồng cháu Lạc
Có niềm tự hào là con cháu Rồng Tiên
Có dòng máu đỏ da vàng
Bất khuất kiên cường
Và có truyền thống đấu tranh cho tư do và độc lập
Nay đất nước gặp nhiều cơn bỉ cực
Bởi những kẻ cầm quyền là những người bán nước hại dân
Để cho ngoại bang xâm chiếm dần dần
Thu tóm hết quê cha đất tổ
Không nổi nhục nào bằng nồi đau của môt người dân nô lệ
Không nổi đau đớn nào bằng khi không có tự do
Con hãy cùng anh em đứng lên phất cao ngọn cờ
Dành lại đất nước và đem lại tự do cho dân tộc
Ngày lễ của bố
Nhưng bố không vui
Vì đất nước đang mất dần lảnh hải
Bố mong con
Và những thế hệ trẻ Việt Nam
Hãy đứng lên
Sát cánh củng nhau
Đem độc lập, tư do, dân chủ cho nhân dân Việt
Đừng sợ hãi nữa
Hãy ngửng đầu lên
Hãy cho thấy sức mạnh của con dân Việt
Và kiên quyết không bao giờ làm nô lệ
Thôi nhé
Chúc con tiến bước
Làm những điều mà bố không làm được...
NTB
( Xin tặng bài thơ này cho những chiến sĩ VNCH, hương hồn bố và ông nội)
Này con ơi hôm nay là ngày lễ của bố
Bố chỉ có con trai
Nhưng bố mong những đứa con trai của bố
Phải sống đàng hoàng
Phải yêu nước
Và đừng cam tâm chịu nhục
Con hảy nhớ con là con Hồng cháu Lạc
Có niềm tự hào là con cháu Rồng Tiên
Có dòng máu đỏ da vàng
Bất khuất kiên cường
Và có truyền thống đấu tranh cho tư do và độc lập
Nay đất nước gặp nhiều cơn bỉ cực
Bởi những kẻ cầm quyền là những người bán nước hại dân
Để cho ngoại bang xâm chiếm dần dần
Thu tóm hết quê cha đất tổ
Không nổi nhục nào bằng nồi đau của môt người dân nô lệ
Không nổi đau đớn nào bằng khi không có tự do
Con hãy cùng anh em đứng lên phất cao ngọn cờ
Dành lại đất nước và đem lại tự do cho dân tộc
Ngày lễ của bố
Nhưng bố không vui
Vì đất nước đang mất dần lảnh hải
Bố mong con
Và những thế hệ trẻ Việt Nam
Hãy đứng lên
Sát cánh củng nhau
Đem độc lập, tư do, dân chủ cho nhân dân Việt
Đừng sợ hãi nữa
Hãy ngửng đầu lên
Hãy cho thấy sức mạnh của con dân Việt
Và kiên quyết không bao giờ làm nô lệ
Thôi nhé
Chúc con tiến bước
Làm những điều mà bố không làm được...
NTB
Hãy Đứng Lên
Hãy đứng lên con dân nước Việt
Để bảo tồn mảnh đất của tiền nhân
Dẩu phải hy sinh xương máu nghìn lần
Cùng thề quyết đập tan quân xâm lược
Đất nước Việt là của người dân Việt *
Câu nói ngàn đời cua dũng tướng ngày xưa
Vẫn mãi ghi trong thế hê kế thừa
Là ngọn đuốc soi đường cho tuổi trẻ
Hãy tỉnh dậy đi những kẻ hại dân hại nước
Đừng bán thêm lãnh hải cho quân thù
Đi ngược lại toàn dân và Tổ quốc
Tiếng cười chê theo mãi vạn đời sau!!
HHL
* Tướng Lý Thường Kiệt
Để bảo tồn mảnh đất của tiền nhân
Dẩu phải hy sinh xương máu nghìn lần
Cùng thề quyết đập tan quân xâm lược
Đất nước Việt là của người dân Việt *
Câu nói ngàn đời cua dũng tướng ngày xưa
Vẫn mãi ghi trong thế hê kế thừa
Là ngọn đuốc soi đường cho tuổi trẻ
Hãy tỉnh dậy đi những kẻ hại dân hại nước
Đừng bán thêm lãnh hải cho quân thù
Đi ngược lại toàn dân và Tổ quốc
Tiếng cười chê theo mãi vạn đời sau!!
HHL
* Tướng Lý Thường Kiệt
Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam
Đất nước ta bốn ngàn năm dựng nước
Chưa bao giờ khuất phục trước ngoại xâm
Vững niềm tin dẩu có lúc thăng trầm
Cùng nổi dậy đập tan quân xâm lược
Kìa nhà Lý biết bao là hào Kiệt
Sông Bạch Đằng nơi đánh bại quân thù
Ải Chi Lăng, bêu đầu tên tướng giặc
Trận Hạ Hồi tiêu diệt kẻ xâm lăng
Nay đảo mất, nhưng lòng dân thống nhất
Trong ngoài đều tức giận kẻ xâm lăng
Cùng thề quyết một lòng ta gắng sức
Giành giử từng mảnh đất của Tiên Rồng
Chưa bao giờ khuất phục trước ngoại xâm
Vững niềm tin dẩu có lúc thăng trầm
Cùng nổi dậy đập tan quân xâm lược
Kìa nhà Lý biết bao là hào Kiệt
Sông Bạch Đằng nơi đánh bại quân thù
Ải Chi Lăng, bêu đầu tên tướng giặc
Trận Hạ Hồi tiêu diệt kẻ xâm lăng
Nay đảo mất, nhưng lòng dân thống nhất
Trong ngoài đều tức giận kẻ xâm lăng
Cùng thề quyết một lòng ta gắng sức
Giành giử từng mảnh đất của Tiên Rồng
Lục Bát Sáu Rưởi
Trâm cài ngày xửa ngày xưa
Ba mươi mấy độ sao chưa phai mờ
Qua cầu rơi nữa vần thơ
Thương anh gío thổi sang bờ bên đây
Hạc kia gom ý làm mây
Thị già ướp chữ ngát say hương nồng
Câu LỤC là thỏi son hồng
Cuộn bằng câu BÁT tơ lòng vấn vương
…
Chiều nay cuối bến sông Tương
Có người độc ẩm, tóc sương điểm màu
Thả vần lục bát về đâu !
Mưa ngâu bên ấy vọng sầu bên đây.
( ThaiNC)
Ba mươi mấy độ sao chưa phai mờ
Qua cầu rơi nữa vần thơ
Thương anh gío thổi sang bờ bên đây
Hạc kia gom ý làm mây
Thị già ướp chữ ngát say hương nồng
Câu LỤC là thỏi son hồng
Cuộn bằng câu BÁT tơ lòng vấn vương
…
Chiều nay cuối bến sông Tương
Có người độc ẩm, tóc sương điểm màu
Thả vần lục bát về đâu !
Mưa ngâu bên ấy vọng sầu bên đây.
( ThaiNC)
Subscribe to:
Posts (Atom)

